Huyền bí tháp bi 玄秘塔碑

Ngày đăng: 24/02/2026 | 00:02

Huyền bí tháp bi 玄秘塔碑

Niên hiệu Hội Xương năm thứ nhất đời Đường (841)

Bùi Hưu 裴休 soạn Liễu Công Quyền 柳公权 viết .

Bia đá này ghi lại sự tích của Pháp sư Đoan Phủ 端甫, bậc Thượng tọa chùa An Quốc tại Trường An, được triều đình sáu đời vua Đường Đức Tông, Thuận Tông, Hiến Tông, Mục Tông, Kính Tông, Văn Tông lễ ngộ, cùng việc các đệ tử xây dựng tháp Huyền Bí Linh Cốt để phụng thờ xá lợi của ngài. Do Liễu Công Quyền viết chữ.

"Người Đường sùng thượng pháp độ", chỉ riêng về lối khải thư mà nói, sơ Đường và trung Đường như những ngọn núi cao sừng sững cùng nhau tỏa sáng. Sơ Đường có bốn nhà kiệt xuất là Âu Dương Tuân, Ngu Thế Nam, Trử Toại Lương, Tiết Tắc, gọi là "Sơ Đường tứ gia" (欧阳询、虞世南、褚遂良、薛稷). Trung Đường có những bậc thạc học như Nhan Chân Khanh, Từ Hạo (颜真卿、徐浩). Còn đến cuối Đường, hầu như chỉ có Liễu Công Quyền một cánh hoa sen nở giữa chốn thư đàn, bước đi một mình một chợ.

Liễu Công Quyền (778-865), tự Thành Huyền 诚悬, người Hoa Nguyên华原 , Kinh Triệu  京兆 (nay là huyện Diệu Châu, thành phố Đồng Xuyên, Thiểm Tây). Xuất thân trong dòng dõi làm  quan , thân phụ là Liễu Tử Ôn từng giữ chức Thứ sử Đan Châu (trị sở nay thuộc Nghi Xuyên, Thiểm Tây). Công Quyền "thuở nhỏ ham học, mười hai tuổi đã có thể làm từ phú". Đời vua Hiến Tông, niên hiệu Nguyên Hòa sơ niên, "đỗ Tiến sĩ, sơ bổ chức Hiệu thư lang tại Bí thư tỉnh", và đã gắn bó mười năm trời với chốn quan nha chuyên coi giữ sách vở, đồ thư.

Năm thứ mười bốn niên hiệu Nguyên Hòa đời Đường Hiến Tông (819), Lý Thính, bạn của anh trai Công Quyền là Liễu Công Xước, trấn thủ Hạ Châu (trị sở nay thuộc Hoành Sơn, Thiểm Tây), mời Công Quyền vào làm mạc liêu, chưởng thư ký. Sau đó, Công Quyền theo chủ tướng vào kinh báo cáo công vụ. Vua Mục Tông mới lên ngôi không lâu đã triệu kiến ông, vui mừng bảo: "Trẫm từng thấy thư pháp của khanh ở chùa chiền, mong gặp đã lâu. Khanh chớ về nữa, hãy ở lại triều đình làm việc đi." Ngay hôm đó, ban chức Hữu Thập Di, sung chức Hàn Lâm Thị Thư Học Sĩ.

Năm 821, sau khi lên ngôi, Đường Mục Tông (795-824) đắm chìm trong yến tiệc du ngoạn, không màng đến quốc sự. Một hôm, vua hỏi Công Quyền: "Khanh ơi, thế nào mới viết được thư pháp tốt?" Công Quyền đáp: "Dùng bút ở tại tâm, tâm chính thì ngòi bút mới chính. 用笔在心,心正则笔正" Vua Mục Tông biến sắc mặt, "biết là ông lấy việc bút để can gián vậy".

Triều Mục Tông, Kính Tông (821-827), Công Quyền làm Thị thư ở nội cấm, giữ chức Học sĩ tại Hoằng Văn Quán, coi giữ sách vở, dạy dỗ học trò; cũng tham gia vào các công việc về điển chế, lễ nghi của triều đình. Thời Văn Tông (827-840), Công Quyền nhờ tài thư pháp và thơ phú tuyệt luân, được vua vô cùng coi trọng. "Thăng chức Gián nghị Đại phu. Ít lâu sau, đổi làm Trung thư Xá nhân, sung chức Hàn Lâm Thư Chiếu Học Sĩ".

Một lần, Công Quyền theo hầu vua Văn Tông đến cung Vị Ương, xe vừa dừng, vua đã bảo ông ngâm vài câu văn ca tụng. Công Quyền nhìn quanh một lượt, ứng khẩu thành chương, tả hữu phùng nguyên, lời lẽ lưu loát tuyệt vời, những người cùng đi không ai không thán phục. Vua Văn Tông lại cười nói: "Khanh hãy ngâm tiếp ba bài thơ nữa, ca tụng cảnh thái bình thịnh trị yên ổn lúc này đi." Công Quyền không chút khó khăn, thư thái bước chậm, ngâm vịnh, bảy bước nên ba bài. Vua Văn Tông cảm thán: "Năm xưa Tào Tử Kiến bảy bước thành thơ, khanh bảy bước được ba bài, thật là kỳ tài vậy."

Đương nhiên, Liễu Công Quyền tuyệt không phải là hạng người chỉ biết tâng bốc công đức.

Một lần khác, vua Văn Tông ở điện bên tổ chức tọa đàm văn nghệ với sáu vị học sĩ, nhân bàn về việc Hán Văn Đế tiết kiệm, yêu dân, vua xúc cảnh sinh tình vén vạt áo lên nói: "Áo của trẫm đã giặt qua ba lần rồi." Các học sĩ đều tán dương đức tiết kiệm của bệ hạ, duy chỉ có Công Quyền lặng thinh. Vua giữ ông lại hỏi, Công Quyền đáp: "Bậc nhân chủ lẽ ra phải cất nhắc, gần gũi kẻ hiền lương, xa lánh phường a dua nịnh hót. Hư tâm tiếp nhận can gián, thưởng phạt phân minh. Mặc áo cũ đã giặt, thực ra chỉ là việc nhỏ nhặt." Những người cùng dự tọa đàm hôm ấy sợ đến nỗi hai chân run lên, còn Công Quyền thì nghĩa chính lời nghiêm, thong dong trấn tĩnh.

Vua Vũ Tông lên ngôi (841-846), Công Quyền dần được thăng lên chức Kim Tử Quang Lộc Đại Phu, Thượng Trụ Quốc, Hà Đông Quận Khai Quốc Công, thực ấp hai nghìn hộ. Về sau lại trải qua các chức Quốc Tử Tế Tửu, Công Bộ Thượng Thư. Đời Đường Ý Tông, niên hiệu Hàm Thông sơ niên, đổi làm Thái Tử Thiếu Phó, Thiếu Sư. Năm Hàm Thông thứ sáu (865) mất, được tặng Thái Tử Thái Sư, hưởng thọ tám mươi tám tuổi (theo Cựu Đường Thư - Liễu Công Quyền truyện), trở thành một thư gia sống rất thọ hiếm thấy trong toàn bộ lịch sử thư pháp Trung Quốc.

Công Quyền thuở nhỏ học thư pháp của Vương Hi Chi, sau đọc khắp các nhà Âu, Ngu, Trử, Lục thời sơ Đường, thể thế kiên cường mà mềm mại, tự thành một phái. Đương thời, các bậc công khanh đại thần nhà lập bia dựng truyện, nếu không mời được Liễu Công Quyền soạn văn viết chữ, người ta cho rằng con cháu nhà ấy bất hiếu. Người nước ngoài đến Trường An cống sứ, trong lòng thường riêng đút một túi tiền, trên đó viết mấy chữ "Đây mua thư của Liễu" (theo Cựu Đường Thư - Liễu Công Quyền truyện), ông được coi trọng đến mức ấy. Sự nghiệp thư pháp của Liễu Công Quyền khởi đầu vào khoảng niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường (785-805), vì tiếng tăm lừng lẫy, tác phẩm rất nhiều, tiếc thay phần lớn đã thất lạc, truyền đến nay chỉ còn hơn hai mươi loại. Trong số đó, những kiệt tác quốc bảo như "Huyền Bí Tháp Bi" (841) viết năm 64 tuổi, "Phùng Túc Bi" (837) viết năm 60 tuổi, "Hồi Nguyên Quan Chung Lâu Minh" (836) viết năm 59 tuổi hiện được tàng trữ tại Tây An Bi Lâm.

Ngày mồng một tháng sáu, năm Khai Thành thứ nhất đời Đường (836), Pháp sư Đại Đạt, bậc Trưởng lão (Thượng tọa) của chùa An Quốc nổi tiếng ở Trường An, viên tịch, hưởng thọ sáu mươi bảy tuổi. Triều đình ban tặng thụy hiệu là "Đại Đạt", để an táng linh cốt của ngài, đặc biệt cho xây dựng tháp Huyền Bí, và sáu năm sau (niên hiệu Hội Xương năm thứ nhất) đã dựng lên tấm bi cao này để kỷ niệm. Chùa An Quốc, nơi Pháp sư Đại Đạt trước tác, trú trì khi còn sống, vốn là tư trạch cũ của Duệ Tông Lý Đán trước khi lên ngôi, niên hiệu Cảnh Vân năm thứ nhất (710) đổi thành chùa An Quốc (di chỉ nay nằm ở phía bắc thôn Long Hoa, đường Điện Xưởng, quận Tân Thành, thành phố Tây An). Các hoàng đế nhà Đường thường ngự giá đến chùa này.

Văn bia "Huyền Bí Tháp Bi" do Bùi Hưu, chức Đô Đoàn Luyện Quan Sát Xử Trí sứ Giang Nam Tây Đạo, Triều Tán Đại Phu kiêm Ngự Sử Trung Thừa, Thượng Trụ Quốc, ban Tử Kim Ngư Đại, soạn.

Văn bia ghi lại sự tích cuộc đời Pháp sư Đại Đạt. Bia chép: Pháp sư Đại Đạt tinh thông Phật học uyên thâm, đệ tử đông đảo, lại có tài ăn nói xuất chúng, khi giảng kinh, "gặp suối nguồn thì thâu tóm tất cả" (lời bia), hùng biện bất tuyệt. Trước hết, "Đức Tông hoàng đế nghe tiếng ngài liền triệu kiến, vừa gặp đã vui mừng khôn xiết", sau đó thường mời ngài vào cung cùng bàn luận với những bậc học rộng hiểu nhiều về Nho, Đạo, và phụ đạo cho Hoàng thái tử học tập. "Thuận Tông hoàng đế vô cùng ngưỡng mộ phong thái của ngài, thân thiết với ngài như anh em ruột thịt, cùng nhau nằm nghỉ" (lời bia). Hiến Tông hoàng đế cũng nhiều lần ngự giá chùa An Quốc, đối đãi với Pháp sư Đại Đạt như bạn bè thân thiết, thường xuyên tham vấn ngài một số vấn đề.

Người soạn văn bia là Bùi Hưu (791-864), người Tế Nguyên, Hà Nội (nay là Tế Nguyên, Hà Nam), tổ tịch ở Văn Hỷ, Hà Đông (nay là Văn Hỷ, Vận Thành, Sơn Tây). Là danh tướng, thư pháp gia thời Trung, Vãn Đường nhà Đường, con thứ của Quan Sát sứ Chiết Đông là Bùi Túc.

Bùi Hưu, kém Liễu Công Quyền 6 tuổi, học rộng biết nhiều, giỏi thơ họa, tinh thông thư pháp. Tác phẩm "Khuê Phong Định Tuệ Thiền Sư Bi" do ông viết, phong thái thư pháp khá giống Liễu Công Quyền. Chữ triện trên bia do Liễu Công Quyền đề.

Khi viết chữ cho "Huyền Bí Tháp Bi", Liễu Công Quyền đã 64 tuổi.

Dựa vào những dấu tích thư pháp còn lại của Liễu Công Quyền mà xét, thư pháp của ông có thể chia làm hai thời kỳ trước và sau. Trước sáu mươi tuổi là thời kỳ tập hợp cổ nhân, tức là thời kỳ "Cựu Đường Thư - Liễu Công Quyền truyện" đã nói ông "thuở nhỏ học thư của Vương, đọc khắp bút pháp của các nhà Âu (Dương Tuân), Ngu (Thế Nam), Trử (Toại Lương), Lục (Giản Chi) thời sơ Đường", phong cách cá nhân chưa hoàn toàn thành thục. Sau sáu mươi tuổi là thời kỳ thư pháp Liễu Công Quyền "thể thế kiên cường mà mềm mại, tự thành một phái".

"Huyền Bí Tháp" là tác phẩm tiêu biểu của Liễu Công Quyền, cũng là tấm bia danh tiếng được di dời vào Tây An Bi Lâm ngay từ khi Bi Lâm mới được thành lập vào năm 1103. Đặc sắc chủ yếu của nó, nếu dùng hai chữ để hình dung, đó chính là "cảm giác xương cốt". "Liễu Cốt" là cảm nhận trực quan nhất của vô số người thưởng lãm qua hàng ngàn năm. Đỗ Phủ (712-770) năm xưa từng cho rằng "Thư pháp quý ở chỗ gầy gò, cứng cỏi mới thông suốt được thần vận", có thể coi là tri âm tiền kiếp của Liễu Công Quyền.

Bút pháp của "Huyền Bí Tháp Bi" tựa như đao phủ, sạch sẽ khoan khoái, chém đứt vàng đá, dứt khoát sắc bén. Góc cạnh lộ rõ, khí cốt ngời ngời. "Huyền Bí Tháp Bi" còn đại khí hơn so với khải thư đầu Đường, đại khí đến từ sự cứng cỏi, mạnh mẽ. Khang Hữu Vi trong "Quảng Nghệ Chu Song Trạo" của mình đã ca ngợi thư của Liễu là "thanh khiết, mạnh mẽ, cao vời, vượt trội", thư pháp của ông như vậy, con người ông cũng như vậy.

Người khắc chữ cho "Huyền Bí Tháp Bi" là hai anh em Thiệu Kiến Hòa và Thiệu Kiến Sơ, những bậc thánh thợ khắc bia nổi tiếng nhất Trung Quốc cổ đại. Chức Tước Ngọc Sách Quan, còn gọi là Khắc Sách Quan, đời Đường thuộc Trung Thư Tỉnh, chuyên trách khắc các thẻ ngọc dùng trong việc tế tự, phong thiện, sách mệnh của hoàng đế. Cũng bao gồm việc khắc một số bia đá, mộ chí quan trọng, đặc biệt.

Liễu Công Quyền rất tán thưởng kỹ thuật khắc bia của hai anh em Thiệu Kiến Hòa, Thiệu Kiến Sơ. Ngoài "Huyền Bí Tháp Bi" ra, các tác phẩm "Hồi Nguyên Quan Chung Lâu Minh", "Phù Lân Bi", "Kim Cương Kinh" do Liễu Công Quyền viết cũng do hai anh em họ Thiệu khắc. Những năm gần đây, "Thiệu Kiến Hòa Mộ Chí" được khai quật ở Thiểm Tây, ghi chép chính xác về năm mất, tuổi thọ, nơi an táng của chủ mộ Thiệu Kiến Hòa. Đồng thời cho thấy, từ giữa đời Đường trở đi, các thế gia, sĩ tộc dần suy vi, nhưng trong ngành nghề khắc đá lại xuất hiện khuynh hướng tập đoàn hóa và gia tộc hóa rõ rệt.

 

Toàn văn :

唐故左街僧錄、內供奉、三教談論、引駕大德、安國寺上座、賜紫、大達法師玄秘塔碑銘,並序。
  江南西道都團練觀察處置等使、朝散大夫兼御史中丞、上柱國、賜紫、金魚袋、裴休撰。
  正議大夫、守右散騎常侍、充集賢殿學士、兼判院事、上柱國、賜紫、金魚袋、柳公權書,並篆額。
  玄秘塔者,大法師端甫□骨之所歸也。於戲!為丈夫者,在家則張仁、義、禮、樂,輔天子以扶世導俗;出家則運慈悲定慧,佐如來以闡教利生。捨此□以為丈夫也,背此無以為達道也。
  和尚其出家之雄乎!天水趙氏,世為秦人。初,母張夫人夢梵僧謂曰:「當生貴子。」即出囊中舍利,使吞之。□誕,所夢僧白晝入其室,摩其頂曰:「必當大弘法教。」言訖而滅。既成人,高顙深目,大頤方口,長六尺五寸,其音如鐘。夫將欲荷如來之菩提,□□靈之耳目,固必有殊祥奇表歟!
  始十歲,依崇福寺道悟禪師為沙弥,十七正度為比丘,隸安國寺。具威儀於西明寺照律師,稟持犯於崇□□昇律師,傳唯識大義於安國寺素法師,通涅槃大旨於福林寺崟法師。
  復夢梵僧以舍利滿琉璃器使吞之,且曰:「三藏大教,盡貯汝腹矣。」□□經、律、論無敵於天下。囊括川注,逢源委會,滔滔然莫能濟其畔岸矣。夫將欲伐株杌於情田,雨甘露於法種者,固必有勇智宏辯歟!
  無何,□文殊於清涼,眾聖皆現,演大經於太原,傾都畢會。德宗皇帝聞其名徵之,一見大悅。常出入禁中,與儒道議論。賜紫方袍,歲時錫施,異於他等。復詔侍皇太子於東朝。順宗皇帝深仰其風,親之若昆弟,相與臥起,恩禮特隆。憲宗皇帝數幸其寺,待之若賓友,常承顧問,注納偏厚。而和尚符彩超邁,詞理響捷,迎合上旨,皆契真乘。雖造次應對,未嘗不以闡揚為務繇,□天子益知佛為大聖人,其教有大不思議事。當是時,朝廷方削平區夏,縛吳斡蜀,潴蔡蕩鄆,而天子端拱無事。詔和□□緇屬迎真骨於靈山,開法場於秘殿,為人請福,親奉香燈。既而刑不殘,兵不黷,赤子無愁聲,蒼海無驚浪。蓋參用真宗以毗□□政之明效也。夫將欲顯大不思議之道,輔大有為之君,固必有冥符玄契歟!
  掌內殿法儀,籙左街僧事,以標表淨眾者,凡一十年。講《涅□》、《□識》經論,處當仁,傳授宗主,以開誘道俗者,凡一百六十座。運三密於瑜伽,契無生於悉地。日持諸部十餘万遍,指淨土為息肩之地,嚴金□□報法之恩。前後供施數十百万,悉以崇飾殿宇,窮極雕繪。而方丈匡床,靜慮自得。貴臣盛族,皆所依慕,豪俠工賈,莫不瞻嚮。薦金寶以致誠,□端嚴而礼足。日有千數,不可殫書。而和尚即眾生以觀佛,離四相以修善,心下如地,坦無丘陵,王公輿臺,皆以誠接。議者以為成就常不輕行者,唯和尚而已。夫將欲駕橫海之大航,拯迷途於彼岸者,固必有奇功妙道歟!
  以開成元年六月一日,西向右脅而滅。當暑而尊容□生,竟夕而異香猶鬱。其年七月六日,遷於長樂之南原。遺命茶毗,得舍利三百餘粒。方熾而神光月皎,既燼而靈骨珠圓。賜諡大達,塔曰□秘。俗壽六十七,僧臘卌八。門弟子比丘、比丘尼約千餘輩。或講論玄言,或紀綱大寺,脩禪秉律,分作人師,五十其徒,皆為達者。
  於戲!和尚□出家之雄乎?不然,何至德殊祥如此其盛也。承襲弟子義均、自政、正言等,克荷先業,虔守遺風,大懼徽猷有時堙沒。而今閤門使劉公,法□最深,道契弥固,亦以為請,願播清塵。休嘗遊其藩,備其事,隨喜讚歎,蓋無愧辭。
  銘曰:
  賢劫千佛,第四能仁。哀我生靈,出經破塵。教綱高張,孰辯孰分?
  有大法師,如從親聞。經律論藏,戒定慧學。深淺同源,先後相覺。異宗偏義,孰正孰駮?
  有大法師,為作霜雹。趣真則滯,涉俗則流。象狂猿輕,鉤檻莫收。柅制刀斷,尚生瘡疣。
  有大法師,絕念而遊。巨唐啟運,大雄垂教。千載冥符,三乘迭耀。寵重恩顧,顯闡讃導。
  有大法師,逢時感召。空門正闢,法宇方開。崢嶸棟樑,一旦而摧。水月鏡像,無心去來。徒令後學,瞻仰徘徊。
  會昌元年十二月廿八日建。刻玉冊官邵建和並弟建初鐫。
Tạm dịch : 

Bia minh tháp Huyền Bí của Đại Đạt Pháp sư, chức Tả Nhai Tăng Lục, Nội Cung Phụng, Tam Giáo Đàm Luận, Dẫn Giá Đại Đức, Thượng tọa chùa An Quốc, ban Tử, đời Đường, kèm tựa.

Người soạn: Bùi Hưu, chức Giang Nam Tây Đạo Đô Đoàn Luyện Quan Sát Xử Trí sứ, Triều Tán Đại Phu kiêm Ngự Sử Trung Thừa, Thượng Trụ Quốc, ban Tử, Kim Ngư Đại.

Người viết chữ và đề đầu chữ triện: Liễu Công Quyền, chức Chính Nghị Đại Phu, giữ chức Hữu Tản Thường Thị, sung chức Tập Hiền Điện Học Sĩ, kiêm Phán Viện sự, Thượng Trụ Quốc, ban Tử, Kim Ngư Đại.

Tháp Huyền Bí, ấy là nơi quy tụ □ xá lợi của Đại Pháp sư Đoan Phủ vậy. Than ôi! Kẻ làm bậc trượng phu, ở nhà thì mở rộng Nhân, Nghĩa, Lễ, Nhạc, phò tá thiên tử để vỗ về đời, dẫn dắt tục; xuất gia thì vận dụng lòng từ bi và trí tuệ định tĩnh, giúp đức Như Lai để xiển dương giáo pháp, lợi lạc chúng sinh. Bỏ điều này thì chẳng thể gọi là bậc trượng phu, trái với điều này thì chẳng thể đạt tới đạo vậy.

Hòa thượng há chẳng phải là bậc trượng phu xuất chúng trong hàng xuất gia ư! Ngài họ Triệu, người đất Thiên Thủy, đời đời là người đất Tần. Thuở đầu, mẹ ngài là phu nhân họ Trương nằm mộng thấy một vị tăng người nước ngoài bảo rằng: "Sẽ sinh quý tử." Liền lấy trong túi ra xá lợi, bà nuốt nó. □ sinh ra, vị tăng trong mộng giữa ban ngày vào phòng ngài, xoa đỉnh đầu ngài bảo: "Ắt sẽ hoằng dương pháp giáo lớn lao." Nói xong thì biến mất. Khi trưởng thành, ngài có trán cao mắt sâu, cằm rộng miệng vuông, cao sáu thước năm tấc, tiếng nói như chuông. Phàm muốn gánh vác đạo Bồ-đề của Như Lai, □□ tai mắt của chúng sinh, ắt phải có điềm lành lạ thường, tướng mạo kỳ vĩ ư!

Lúc mười tuổi, ngài theo Thiền sư Đạo Ngộ ở chùa Sùng Phúc làm Sa di, mười bảy tuổi chính thức thọ giới làm Tỳ-kheo, trực thuộc chùa An Quốc. Thọ học oai nghi nơi Luật sư Chiếu ở chùa Tây Minh, lĩnh hội việc thọ trì giới phạm nơi □□ Thăng Luật sư ở chùa Sùng, truyền thụ nghĩa lý lớn của Duy Thức học nơi Pháp sư Tố ở chùa An Quốc, thông suốt tông chỉ lớn của Kinh Niết-bàn nơi Pháp sư Ngâm ở chùa Phúc Lâm.

Lại mộng thấy vị tăng nước ngoài lấy xá lợi đổ đầy bình lưu ly bảo ngài nuốt, và nói: "Giáo pháp Đại thừa Tam tạng, chứa hết trong bụng ngươi rồi." □□ Kinh, Luật, Luận, không ai địch nổi trong thiên hạ. Ngài như túi đựng hết thảy, như sông lớn đổ về, gặp suối nguồn thì thâu tóm, mênh mông cuồn cuộn không ai có thể đo được bến bờ của nó. Phàm muốn chặt cây ngô đồng nơi ruộng tình, rưới mưa cam lồ lên giống pháp, ắt phải có dũng trí và biện tài rộng lớn ư!

Chẳng bao lâu, □ ngài đến núi Thanh Lương lễ Văn Thù, các vị thánh đều hiện ra; giảng kinh Đại Phương Quảng (Hoa Nghiêm) tại Thái Nguyên, cả thành đều đến dự. Đức Đức Tông hoàng đế nghe tiếng ngài bèn triệu kiến, vừa gặp đã vui mừng. Ngài thường ra vào nội cấm, cùng các học giả Nho giáo, Đạo giáo bàn luận. Được ban áo cà-sa màu tía, tuế thời ban tặng, khác hẳn những người khác. Lại chiếu hầu Hoàng thái tử ở Đông cung. Đức Thuận Tông hoàng đế vô cùng ngưỡng mộ phong thái ngài, thân thiết như anh em ruột, cùng nằm cùng dậy, ơn sâu lễ trọng lạ thường. Đức Hiến Tông hoàng đế nhiều lần ngự giá đến chùa của ngài, đãi ngộ như khách quý, thường được vua tham vấn, chú ý và tiếp thu đặc biệt sâu sắc. Mà Hòa thượng thần thái siêu phàm, lời lẽ sắc bén, hợp ý chỉ của vua, đều khế hợp với chân thừa (Phật thừa). Dẫu có ứng đối vội vàng, chưa từng không lấy việc xiển dương làm nhiệm vụ. Do □ mà thiên tử càng biết Phật là bậc Đại Thánh nhân, giáo pháp của Ngài có những điều không thể nghĩ bàn lớn lao. Khi ấy, triều đình đang dẹp yên thiên hạ, trói Ngô (trấn Hải Nam?), chém Thục (Tây Xuyên?), dẹp Sái (trấn Bành Nghĩa?), quét sạch Vận (trấn Thiên Bình?), mà thiên tử ngồi chống tay không phải lo việc. Chiếu cho Hòa thượng □ cùng tăng chúng nghênh đón chân cốt Phật tại Linh Sơn, mở pháp trường tại điện bí mật, vì người cầu phúc, tự tay dâng hương đèn. Sau đó, hình phạt không còn hà khắc, binh lính không còn lạm sát, con đỏ không tiếng than buồn, biển khơi không sóng dữ. Ấy là nhờ vận dụng phần nào chân tông để giúp □ chính sự sáng suốt, hiệu quả rõ ràng vậy. Phàm muốn hiển bày đạo lý không thể nghĩ bàn lớn lao, phò tá bậc quân vương có chí lớn, ắt phải có sự phù trợ huyền diệu, khế hợp ngầm ư!

Ngài trông coi pháp nghi ở nội điện, quản lý việc tăng chúng bên tả nhai, để làm tiêu biểu cho chúng Tăng thanh tịnh, tổng cộng hai mươi năm. Giảng Kinh Niết-bàn, □ Thức (Duy Thức), luận giải kinh điển, xử sự đúng đắn, truyền thụ làm chủ giáo pháp, để mở mang, dẫn dắt tăng tục, tổng cộng một trăm sáu mươi tòa. Vận dụng Tam mật nơi Thai Du già, khế hợp với Vô sinh nơi Tất địa. Mỗi ngày trì tụng các bộ kinh hơn mười vạn biến, chỉ Tịnh độ làm nơi nghỉ ngơi dừng chân, nghiêm trang kim □ báo đáp ơn pháp. Trước sau cúng dường vài trăm vạn, đều dùng để tô điểm trang hoàng điện vũ, chạm trổ sơn vẽ hết mực. Mà nơi vuông trượng một trượng, giường nhỏ ngay ngắn, ngài vẫn tĩnh lặng suy tư, tự đắc. Các bậc quý quan, dòng tộc lớn, đều nương tựa ngưỡng mộ; hào kiệt hiệp khách, thợ thuyền buôn bán, không ai không hướng về. Dâng vàng báu để tỏ lòng thành, □ đoan nghiêm mà lễ bái dưới chân. Mỗi ngày có hàng nghìn, không thể ghi chép hết. Mà Hòa thượng nơi chúng sinh mà quán Phật, lìa bốn tướng mà tu thiện, lòng ngài như đất, bằng phẳng không gò nổng, vương công cho đến kẻ hầu người hạ, đều lấy thành tâm mà tiếp. Người bàn luận cho rằng thành tựu hạnh thường không khinh ai, chỉ có Hòa thượng mà thôi. Phàm muốn lái con thuyền lớn vượt biển cả, cứu vớt kẻ lạc đường đến bến bờ kia, ắt phải có công lao lạ thường, đạo lý huyền diệu ư!

Vào ngày mồng một tháng sáu năm Khai Thành thứ nhất, ngài xoay mặt về phía tây, nằm nghiêng phải mà tịch diệt. Giữa trời nóng, dung nhan tôn quý □ sinh ra, suốt đêm mà hương lạ vẫn còn thoang thoảng. Tháng ấy, ngày mồng sáu tháng bảy, di dời nhục thân về nam nguyên đất Trường Lạc. Di chúc hỏa táng, được hơn ba trăm hạt xá lợi. Khi lửa đang cháy rực, thần quang sáng như trăng; khi lửa tàn, xá lợi tròn như ngọc. Được ban thụy hiệu là Đại Đạt, tháp hiệu là □ Bí. Tuổi đời sáu mươi bảy, tuổi hạ bốn mươi tám. Đệ tử xuất gia là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni ước chừng hơn nghìn vị. Có vị giảng luận huyền ngôn, có vị quản lý đại tự, tu Thiền, giữ Luật, chia nhau làm bậc thầy của người, năm mươi vị trong số đó, đều là những người đắc đạo.

Than ôi! Hòa thượng há chẳng phải là bậc trượng phu xuất chúng trong hàng xuất gia ư? Chẳng vậy, sao mà đức lớn, điềm lành lại thịnh vượng đến thế! Các đệ tử kế thừa y giáo là Nghĩa Quân, Tự Chính, Chính Ngôn v.v., gánh vác nghiệp xưa của thầy, kính cẩn giữ gìn phong cũ, rất đỗi lo sợ những mưu đồ tốt đẹp của thầy có lúc bị mai một. Nay, ông Lưu công, chức Các Môn Sứ, pháp □ sâu nhất, đạo tâm càng bền chặt, cũng lấy làm thỉnh cầu, muốn truyền bá thanh tao ấy. Hưu này từng dạo chơi trong vòng pháp của ngài, bị việc, tùy hỷ tán thán, e không có lời nào đáng hổ thẹn vậy.

Bài minh rằng:
Trong Hiền kiếp nghìn Phật,
Vị thứ tư là Năng Nhân.
Xót thương chúng sinh ta,
Ra đời, phá bụi trần.
Lưới pháp giăng cao vợi,
Ai phân biệt, biện phân?

Có bậc Đại Pháp sư,
Như từ Phật tự thân nghe.
Kinh, Luật, Luận ba tạng,
Giới, Định, Tuệ ba xe.
Nông sâu đồng một mối,
Trước sau nối ngộ về.
Tông khác, nghĩa lệch lạc,
Ai chính, ai sai ngoa?

Có bậc Đại Pháp sư,
Làm sương móc, mưa sa.
Hướng chân thì vướng mắc,
Vào tục lại trôi xa.
Voi cuồng, vượn nhẹ dạ,
Móc câu chẳng giữ già.
Cái kẹp, dao cắt đứt,
Vẫn sinh nhọt, da quà.

Có bậc Đại Pháp sư,
Dứt niệm, dạo tháng ngày.
Nhà Đường mở vận hội,
Đấng Đại Hùng (Phật) truyền thay.
Nghìn năm cơ ngầm hợp,
Ba thừa rực rỡ thay.
Trọng ân, thường nhắc nhở,
Hiển bày, dẫn dắt thay.

Có bậc Đại Pháp sư,
Gặp thời, cảm ứng dày.
Cửa Không vừa mở rộng,
Pháp giới đương mở bày.
Rường cột cao sừng sững,
Một sớm bỗng tiêu ngay.
Trăng nước, bóng trong gương,
Lòng không, mặc đến hay.
Để cho hàng hậu học,
Ngước nhìn, mãi đắng cay.

Dựng vào ngày hai mươi tám tháng mười hai năm Hội Xương thứ nhất.
Quan Khắc Ngọc Sách là Thiệu Kiến Hòa cùng em là Kiến Sơ khắc.

  • Zalo
  • Messenger
  • Back to top