Vận điệu Ngụy Bi trong dòng sông lịch sử
Tác giả: Lưu Vận Phong - 刘运峰
Mở đầu:
“Ngụy Bi” - 魏碑 chỉ các loại văn tự khắc trên đá như bia khắc, mộ chí, ma nhai, tạo tượng ký của triều đại Nguyên Ngụy - 元魏 thời Nam Bắc Triều - 南北朝, chủ yếu bao gồm tác phẩm của các thời kỳ Bắc Ngụy - 北魏 (386–534), Đông Ngụy - 东魏 (534–550), Bắc Tề - 北齐 (550–577), Tây Ngụy - 西魏 (535–556), Bắc Chu - 北周 (557–581). Về phong cách thư pháp, cũng có thể truy nguyên đến Đông Tấn - 东晋 (317–420), và một số văn tự khắc đá thời Lưu Tống - 刘宋 (420–479), Nam Tề - 南齐 (479–502), Nam Lương - 南梁 (502–557) thuộc Nam Triều. Do trình độ thư pháp khắc đá thời kỳ này đạt cao nhất dưới thời Bắc Ngụy, nên Ngụy Bi còn được gọi là “Bắc Bi” - 北碑.
I. Đặc trưng nghệ thuật của Ngụy Bi
Ngụy Bi là một loại thư thể nằm giữa Lệ thư 隶书 và Khải thư 楷书, thuộc phạm trù Chính thư 正书. Diện mạo đa dạng, phong cách khác nhau, là một thư thể mang tính chuyển tiếp trong lịch sử thư pháp Trung Quốc.
Hình thức biểu hiện của Ngụy Bi chủ yếu có bốn loại: Tạo tượng ký 造像记, Bia khắc 碑刻, Mộ chí minh 墓志铭 và Ma nhai 摩崖. Bốn loại hình thức này mỗi loại có đặc sắc riêng, mỗi loại có diện mạo riêng.
Tóm lại, Tạo tượng ký thì hùng vĩ, tuấn tú, mậu mực, dứt khoát như chém đinh chặt sắt, ví dụ như 《Long Môn nhị thập phẩm - 龙门二十品》;
Bia khắc thì phong phú, tự nhiên, đĩnh bạt, cương kiện, ví dụ như 《Trương Mãnh Long Bi - 张猛龙碑》, 《Mã Minh Tự Bi - 马鸣寺碑》;
Mộ chí minh thì tinh xảo, nghiêm cẩn, trang trọng, điển nhã, ví dụ như 《Trương Huyền Mộ Chí - 张玄墓志》, 《Thôi Kính Ung Mộ Chí - 崔敬邕墓志》;
Ma nhai thì đại khí bàng bạc, ý thú sinh động, ví dụ như 《Thạch Môn Minh - 石门铭》, 《Luận Kinh Thư Thi - 论经书诗》. Tóm lại, phong cách nghệ thuật của Ngụy Bi có thể nói là muôn màu muôn vẻ, mỗi loại một thần thái.
Khang Hữu Vi 康有为 trong 《Quảng Nghệ Chu Song Tiếp - 广艺舟双楫》đã quy nạp Ngụy Bi thành “Thập Mỹ - 十美”: “Một là phách lực hùng cường, hai là khí tượng hồn hậu, ba là bút pháp nhảy múa, bốn là điểm hoạch cao dày, năm là ý thái kỳ lạ phiêu dật, sáu là tinh thần bay bổng, bảy là hứng thú thỏa thuê, tám là cốt pháp thấu triệt, chín là kết cấu tự nhiên, mười là huyết nhục phong phú đẹp đẽ.” Những tổng kết này có cái đúng mức, có cái nói quá. Tuy nhiên, nhìn từ dòng sông lịch sử thư pháp Trung Quốc, thư pháp Ngụy Bi quả thực có sức hấp dẫn độc đáo.
Thứ nhất, một phán đoán cơ bản là Ngụy Bi không thuộc loại thư thể đã chín muồi; nó kế thừa Tần Hán ở trước, mở đường cho Tùy Đường ở sau. Do sự giao lưu và va chạm văn hóa Nam Bắc, sự xung đột và dung hợp giữa văn hóa Trung Nguyên và văn hóa ngoại tộc, đặc biệt là văn hóa Tiên Ti, khiến Ngụy Bi bất kể về hình thức trình hiện hay phong cách thư tả đều có những điểm hoàn toàn khác biệt với Hán Lệ và Đường Khải.
Thứ hai, xét về loại hình nghệ thuật, Ngụy Bi có thể chia thành hai loại: công chỉnh (工整) và tùy ý (随意). Ngụy Bi công chỉnh có bút pháp, quy tắc kết thể và chương pháp xuyên suốt toàn cục và khá thành thục. Người thư đan có công cơ bản tốt, có người là thư gia dân gian nổi tiếng như Chu Nghĩa Chương 朱义章, Bối Nghĩa Uyên贝义渊 v.v...; có người là văn nhân sĩ đại phu nổi tiếng hoặc ẩn dật chi sĩ, như Đào Hoằng Cảnh 陶弘景, Khấu Khiêm Chi 寇谦之, Trịnh Đạo Chiêu 郑道昭, Vương Viễn 王远, Trịnh Thuật Tổ 郑述祖, Triệu Văn Uyên 赵文渊, Dữ Tín 庾信 v.v... Tương ứng với đó, cũng có một đội ngũ thợ khắc kỹ nghệ thuần thục phục vụ họ, do đó lưu lại nhiều tác phẩm viết và khắc đều tốt.
Ngụy Bi tùy ý thường do dân gian thư thủ làm ra. Những người viết này không có nhiều câu nệ trong việc viết chữ, thường không theo một khuôn khổ nhất định, tức hứng mà viết, tùy ý mà thành, không có pháp định nào cố định mà lại giàu biến hóa. Thêm vào đó, trong quá trình khắc chữ không thể tránh khỏi sự phát huy ở mức độ nhất định, nên sẽ bộc lộ một loại vẻ đẹp tự nhiên, hồn nhiên.
Cuối cùng, so với thư pháp Ngụy Tấn魏晋 đại diện bởi “Nhị Vương” với đặc trưng lưu mỹ, phiêu dật, tiêu sái, thư pháp Ngụy Bi có ý vị thẩm mỹ rõ rệt, có thể quy nạp thành ba điểm.
Thứ nhất, vẻ đẹp hậu trọng. Biểu hiện ở điểm hoạch hậu trọng, bút lực hùng cường, cương kiện ngưng trọng, khá có chất cảm.
Thứ hai, vẻ đẹp kỳ tứ. Biểu hiện ở kết thể ngàn tư trăm thái, mỗi loại một diện mạo, hoặc vuông, hoặc dẹt, hoặc dài, thường không hợp quy tắc, ra ngoài ý liệu, nhiều nét nghiêng, nét trắc, nhưng trên tổng thể thể hiện một loại hài hòa và cân bằng, khiến tác phẩm đạt đến cảnh giới ý thú tràn đầy, hồn nhiên như trời tạo.
Thứ ba, vẻ đẹp phác mậu. Biểu hiện ở phong cách tổng thể cổ phác tự nhiên, không thêm điêu khắc trang trí, có một loại sinh cơ bừng bừng và khí chất ngây thơ, lãng mạn.
《Tề Quận Vương Nguyên Hựu tạo tượng ký 齐郡王元佑造像记》, một trong “Long Môn nhị thập phẩm”. Ảnh: Hác Tân Quốc / Quang Minh hình ảnh
II. Các phong cách đa dạng của Ngụy Bi
Thư pháp Ngụy Bi là sự quá độ từ Lệ thư sang Khải thư, có thể nói bắt đầu từ Lệ và kết thúc ở Khải. Do tính lâu dài của quá trình phát triển diễn biến, tính rộng lớn của địa vực, tính đa nguyên của văn hóa, nên phong cách cũng biểu hiện đa dạng; quy nạp lại có thể chia thành các loại như sau.
1. Cổ chuyết phác hậu - 古拙朴厚.
Chủ yếu lấy tác phẩm trước Bắc Ngụy và thời Lưu Tống Nam Triều làm chủ. Những tác phẩm này chứa đựng ý vị Lệ thư rõ rệt, nét bút hậu trọng, phần nhiều dùng Phương bút, kết chữ thô mộc mà chứa khéo léo, không theo một khuôn khổ nhất định, khiến người ta có cảm giác cổ phác. Ví dụ 《Trung Nhạc Tung Cao Linh Miếu Bi - 中岳嵩高灵庙碑》(khắc lập năm 456) là tác phẩm điển hình chuyển từ Lệ sang Khải. Chữ trên bia lớn nhỏ nghiêng lệch xen tạp, vừa trang nghiêm vừa hài hước, giàu biến hóa. Khang Hữu Vi nói nó “thể kiêm cả Lệ và Khải, bút pháp xen lẫn vuông tròn”. Vô Bất Khả Trai Chủ nói: “《Linh Miếu Bi》 hồn dung phương tuấn, kỳ dật hùng cường, dung hòa pháp Hán với Chân và Hành, gửi gắm vẻ đẹp vào chất phác, thật có thể nói là không thể nào không đủ, không vẻ đẹp nào không thu.” Do nó thoát thai từ Lệ thư, nên cổ ý tràn đầy, nét ba trét vẫn còn; lại do nó chưa đạt đến trình độ Khải thư thành thục, nên dụng bút đại khởi đại lạc, kết thể không câu nệ. Hai điều này cùng có, khiến bia này thể hiện một loại ý thú suất chân cổ phác, trẻ thơ ngây thơ, tự nhiên lãng mạn. Bia này đối với hậu nhân có gợi mở là, thông qua thưởng đọc và suy ngẫm, có thể quan sát sự quá độ và diễn biến của thư pháp từ Lệ thư sang Khải thư, cái gọi là “thám cứu nguồn gốc của Kim Lệ, nhận biết sự biến hóa của Cổ Lệ” (lời Diêu Hoa - 姚华). Lại như 《Thoán Long Nhan Bi爨龙颜碑》 (khắc lập năm 485), bia này điểm hoạch vuông trong chứa tròn, cổ chuyết phác hậu, kết thể bằng phẳng trong chứa hiểm trở, giàu biến hóa. Dương Thủ Kính杨守敬 nói nó “hoàn toàn dùng pháp Lệ, biến hóa đến cực điểm, tuy cũng có nét như dao bẻ, mà vẫn ôn thuần nhã nhặn, tuyệt không có vẻ hàn vi.” Khang Hữu Vi nói: “《Thoán Long Nhan Bi》 đời Tống hồn hậu sinh động, kiêm cả vẻ đẹp mậu mật và hùng cường, là đệ nhất của Chính thư.”
2. Thanh tuấn tú dật - 清峻秀逸.
Thông qua việc thực thi chính sách Hán hóa của Hiếu Văn Đế - 孝文帝, Ngụy Bi ở thời kỳ toàn thịnh, sản sinh nhiều tác phẩm bia khắc tinh mỹ. Những tác phẩm này vừa có mặt cương kiện hùng cường, vừa có mặt tú lệ điển nhã, thể hiện một loại phong cách thanh tuấn tú dật. Ví dụ 《Trương Mãnh Long Bi》 - 张猛龙碑 (khắc lập năm 522) có thể gọi là một đỉnh cao của thư pháp Ngụy Bi; bia này vừa có khí hùng cường của Bắc Bi, vừa có vẻ lưu mỹ của Nam Thiếp - 南帖. Vừa là sản vật của sự giao lưu giữa văn hóa Tiên Ti và văn hóa Trung Nguyên, vừa là kết tinh của sự thẩm thấu lẫn nhau giữa Bi và Thiếp. Người học Ngụy Bi phần nhiều tôn nó làm khuôn mẫu; người có thể vào được sâu trong nhà nó thì được lợi vô cùng. Đề ngạch của bia này có thư thế miên mật hiểm tuấn, khí thế hùng cường; chính văn dụng bút lấy vuông làm chủ mà không mất vẻ hàm súc, chỗ vi tế lại càng tinh đáo, thỉnh thoảng xuất hiện nét hiểm tiễu. Kết cấu của nó cực kỳ nghiêm cẩn, bình chính mà giàu biến hóa. Tuy là điển hình của Khải thư, nhưng lại có vận vị hành vân lưu thủy. Dương Thủ Kính nói nó “thư pháp tiêu sái cổ đạm, kỳ chính tương sinh, đây là lý do lục đại cao hơn người đời Đường.” Khang Hữu Vi thì nói nó là “tinh năng”, “nguồn gốc từ họ Vệ, mà kết cấu tinh tuyệt, biến hóa vô đoan”, “là tông của chính thể biến thái”; do đó có thể thấy sức hấp dẫn nghệ thuật của nó.
3. Phương chính mậu mật - 方正茂密.
Chủ yếu lấy bia khắc Nam Triều và bia khắc trung kỳ Bắc Ngụy làm chủ, đặc trưng là dụng bút phương chiết hậu trọng, kết cấu nghiêm cẩn mậu mật. Ví dụ 《Tiêu Đạm Bi - 萧憺碑》 (khắc lập năm 523) bút thế tuấn kiện, kết thể nghiêm cẩn; Khang Hữu Vi bình nó “ý tượng hùng cường, nguồn gốc cũng từ họ Vệ, nếu kết thể tuấn mật, hành bút anh nhuệ, thì trực tiếp giống hệt 《Hoàng Phủ Bi - 皇甫碑》của Suất Canh (Âu Dương Tuân - 欧阳询).” Dương Thủ Kính bình nó “thư pháp cực có tư trí, không có tập khí tạp dụng phân thể của người Bắc Triều, Đông Pha 东坡 dường như xuất phát từ đây, ta thường nói Pha Công không một nét bút tục khí, mới biết ông thấm nhuần sâu sắc lục đại.” Lại như 《Cao Trinh Bi - 高贞碑》 (khắc lập năm 523), bút họa vuông vức đĩnh kiện, kết cấu bình chính phương chỉnh, là tác phẩm của danh gia cao thủ đương thời, có thể coi là đại biểu của thư pháp Ngụy Bi. Dương Thủ Kính bình nó “thư pháp phương chỉnh, không có vẻ hàn kiệm.” Từ Thụ Quân - 徐树钧 nói: “Chữ Bắc Ngụy đã loạn lắm, xấu cũng lắm. Riêng bia này cương kiện trung chính, mở đường cho Âu, Chử, xứng đáng là thư pháp hay của Bắc Ngụy. Người học Bắc Bi ngày nay cũng nên lấy đây làm khuôn mẫu.” Lại như 《Mã Minh Tự Căn Pháp Sư Bi - 马鸣寺根法师碑》(khắc lập năm 523) phần nhiều dùng trắc bút để lấy thế, điểm họa phong hậu kình kiện, như bọc sắt trong bông, chỗ chuyển góc vuông vức đầy đặn, thể hiện tột cùng ý vị cương nhu tương tế; kết cấu chỉnh tề, mậu mật khẩn thấu mà không cục xúc, thể thế của nó bên trái thấp bên phải cao, nhấp nhô đa tư, tạo một phong cách riêng trong Ngụy Bi. Lục Tằng Tường 陆增祥 trong 《Bát Quỳnh Thất Kim Thạch Bổ Chính - 八琼室金石补正》nói nó “thư pháp đoan lệ, Lý Bắc Hải 李北海 đạt được hết cái diệu của nó, là bậc kiệt xuất nhất của Bắc Bi.”
4. Kỳ dật sái thoát - 奇逸洒脱.
Chủ yếu lấy 《Ý Hạc Minh - 瘗鹤铭》thời Nam Lương và 《Thạch Môn Minh - 石门铭》thời Bắc Ngụy làm chủ. 《Ý Hạc Minh》 chữ thế bay bổng, tiêu sái tự nhiên, phong cách kỳ lạ phiêu dật cao cổ, tiêu sơ đạm viễn, kiêm cả bút trí và ý thú của Triện, Lệ, Hành thư, được các thư gia lịch đại coi trọng. Tào Sĩ Miện 曹士冕 đời Tống nói: “Tiêu Sơn 《Ý Hạc Minh》 bút pháp chi diệu, là đệ nhất của thư gia.” Vương Thế Trinh 王世贞 đời Minh nói: “Minh này cổ chuyết kỳ tiễu, hùng vĩ phi dật, cố nhiên là hùng của thư gia. Nhưng kết thể đôi chỗ có vẻ sơ tâm mạn, như tay không theo kịp, e rằng Hữu Quân 右军 không làm được.” Hoàng Đình Kiên 黄庭坚 đời Tống nói: “Hữu Quân từng đùa viết long trảo thư, nay không còn thấy. Ta xem 《Ý Hạc Minh》, thế như bay bổng, lẽ nào là di pháp của ông?” Hoàng Bá Tư 黄伯思 trong 《Đông Quan Dư Luận - 东观余论》bình nó “tiêu sơ đạm viễn, như con người của nó.” Lưu Hi Tái 刘熙载 trong 《Nghệ Khái - 艺概》nói: “《Ý Hạc Minh》 dụng bút ngầm thông với ý Triện, với chữ của Trịnh Đạo Chiêu đời Hậu Ngụy như khớp làm một, điều này có thể cùng người nghiên cứu thư luận Nam Bắc cùng tham khảo.” 《Thạch Môn Minh - 石门铭》(khắc năm 509) minh văn viết theo thế đá của ma nhai, không câu nệ hàng lối, nét chữ bút thế rất dài, dụng bút cương nhu tương tế, vung bút tự nhiên, siêu dật sái thoát, kỳ tứ phi động. Khang Hữu Vi đối với 《Thạch Môn Minh》 vô cùng tôn sùng, nói “《Thạch Môn Minh》 phi dật kỳ tứ, phân hàng sơ đãng, phơi phới như muốn thành tiên, nguồn gốc từ 《Thạch Môn Tụng - 石门颂》, 《Khổng Trụ - 孔宙》các bia.” “《Thạch Môn Minh》 là tông của phi dật hồn mục.” Lương Khải Siêu 梁启超 nói: “《Thạch Môn Minh》 bút ý phần nhiều gần với 《Thạch Môn Tụng》. Kia lấy Thảo làm Lệ, này lấy Thảo làm Khải, đều là dật phẩm.” Với tư cách là tác phẩm đại biểu trong ma nhai Bắc Ngụy, 《Thạch Môn Minh》 phần nhiều lấy thế hơi ngẩng lên phía trên bên phải, phần chủ can và trung tâm của chữ đều biểu hiện rộng rãi thoáng đãng, nét chữ vươn ra bốn phía tùy ý, khá có cảm giác động, từ đó hình thành nên phong thần độc đáo kỳ dật sái thoát của nó.
5. Hùng hồn bác đại - 雄浑博大.
Chủ yếu lấy ma nhai khắc đá từ Bắc Ngụy đến Bắc Tề, Bắc Chu làm chủ. Ví dụ 《Vân Phong Chư Sơn Khắc Thạch - 云峰诸山刻石》, 《Thái Sơn Kinh Thạch Vụ Kim Cang Kinh - 泰山经石峪金刚经》, 《Khuông Triết Khắc Kinh Tụng - 匡喆刻经颂》v.v... Vân Phong chư sơn ma nhai khắc thạch lại có thể chia thành hai loại: Một loại có khí chất miếu đường , như 《Trịnh Văn Công Bi - 郑文公碑》, 《Đăng Vân Phong Sơn Ký - 登云峰山记》, 《Thiên Trụ Sơn Minh - 天柱山铭》v.v...; một loại có khí chất sơn nhạc như 《Luận Kinh Thư Thi - 论经书诗》, 《Đông Kham Thạch Thất Minh - 东堪石室铭》v.v... Nguyên nhân chủ yếu ở chỗ tâm thái sáng tạo của thư gia bất đồng. Do 《Trịnh Văn Công Bi》 là tác phẩm ca ngợi tiên nhân, nên trong lòng có sự kính sợ, hạ bút chỉ cẩn chỉ thận, cẩn thận từng ly, diện mạo tác phẩm tất nhiên là đoan nghiêm chỉnh tề, nên phần nhiều có khí chất miếu đường; còn 《Luận Kinh Thư Thi》 là tác phẩm bộc lộ tình cảm, buông thả tính tình, hòa mình vào sông núi, khiến ý tượng của thư pháp và vật tượng của tự nhiên hợp làm một, sản sinh giai tác tự nhiên hồn mục, nên phần nhiều có khí chất sơn nhạc. Dương Thủ Kính nói: “Các bia của Trịnh Đạo Chiêu ở Vân Phong, tù kình kỳ vĩ, cùng với 《Ý Hạc Minh》 của Nam Triều, dị khúc đồng công.” Trương Tông Tường - 张宗祥 trong 《Thư Học Nguyên Lưu Luận - 书学源流论》thì đối với Vân Phong Sơn khắc thạch đã có đánh giá khá toàn diện, nói nó “kết thể kỳ tứ, mà thần thái tĩnh mạc, từng nét thư sướng, từng chữ an thích, từng hàng lưu động. Xem nét thứ nhất, thì không biết nét thứ hai phải bắt đầu thế nào mới được. Xem chữ thứ nhất, thì không biết chữ thứ hai phải đặt thế nào mới yên. Đến khi xem toàn bộ, thì lại như tùy ý viết ra mà không có gì lạ, không cầu khác mà người ta tự nhiên không thể giống, không cầu khéo mà đời tự nhiên không thể hơn. Đó thực là sức người và công trời, mỗi thứ đều đạt đến thần diệu, mà người đời lại còn dám căn cứ vào hình tích mà tìm cầu.”
6. Hùng cường cương kiện - 雄强刚健.
Chủ yếu lấy tạo tượng ký thời Bắc Ngụy làm đại biểu, trong đó có tính đại biểu nhất là 《Long Môn nhị thập phẩm - 龙门二十品》, mà đặc biệt lấy 《Thủy Bình Công Tạo Tượng Ký》 - 始平公造像记 làm điển hình nhất. Hồ Tị Sơn - 胡鼻山 đời Thanh bình nó “chữ lớn nhỏ như sao đẹp trên trời, thể thế nhìn nhau như cá đùa nước, Phương bút hùng kiện xứng đáng là đệ nhất Bắc Bi.” Tạo tượng ký này khí tượng hồn hậu, điểm họa ngưng trọng, thế hùng lực hậu, tuấn bạt cương kiện. Vừa chứa thái độ ung dung phương chính, vừa có thần thái thô quảng cường hãn, nổi tiếng với vẻ đẹp dương cương. Kết thể của nó trong bình chính có nhiều biến hóa, trong phác hậu thấy linh tú, trong chẩn mật có sơ lãng, trong tế nị có hùng khí, như thân cây tùng già, như thân thể kiện tướng.
7. Tú lệ nhàn nhã - 秀丽娴雅.
Chủ yếu lấy mộ chí thời Bắc Ngụy và bia khắc Đông Ngụy Bắc Tề làm đại biểu. Phong cách này phải kể đến 《Trương Huyền Mộ Chí - 张玄墓志》. Hà Thiệu Cơ 何绍基 đời Thanh nói nó “hóa Triện và Phân vào Khải, do đó không thần nào không diệu, không diệu nào không đạt, nhưng tù hậu tinh cổ, chưa có ai có thể sánh vai với 《Hắc Nữ - 黑女》.” Mộ chí thư pháp dụng bút tinh đáo, phần nhiều tham dự ý Lệ, trong thẳng có cong, trong thu có phóng, khí tượng điển nhã đại độ, ung dung hoa quý, có một loại phong phạm đại gia.
Tây An Bi Lâm bác vật quán tàng 《Nguyên Trinh Mộ Chí - 元桢墓志》 (cục bộ). Tư liệu hình ảnh
III. Ảnh hưởng của thư pháp Ngụy Bi đối với hậu thế
Thư pháp Ngụy Bi kế thừa Tần Hán ở trên, mở đường cho Tùy Đường ở dưới, bắt đầu từ Lệ và kết thúc ở Khải. Một mặt, nó là kết quả phát triển biến hóa của thư pháp Tần Hán dưới bối cảnh đặc thù; mặt khác, nó cũng là nguồn khởi đầu của Khải thư Tùy Đường.
1.Ảnh hưởng đối với thư pháp Tùy Đường
Thời Tùy Đường, thành tựu lớn nhất phải kể đến Khải thư, mà những Khải thư này hầu như đều do Ngụy Bi diễn biến mà thành.
Sau khi nhà Tùy thống nhất, giao lưu văn hóa Nam Bắc càng thuận tiện. Về thư pháp, phong cách thô quảng hào phóng của phương Bắc và khí chất ôn nhu ỷ lệ của phương Nam thẩm thấu lẫn nhau, do đó khiến thư phong biến đổi; diện mạo Tùy Bi vừa có vẻ đẹp hùng kiện, vừa có tư thái tuấn tú. Khá nổi tiếng có 《Long Tàng Tự Bi - 龙藏寺碑 》 (khắc lập năm 586), bia này đoan trang tĩnh mục, pháp độ sâm nghiêm, đồng thời kết thể mỹ quan, tư thái ưu mỹ. Khang Hữu Vi nói “《Long Tàng》 thống hợp Phân và Lệ, kết hợp các phái 《Điếu Tỷ Can Văn - 吊比干文》, 《Trịnh Văn Công - 郑文公》, 《Kính Sử Quân - 敬使君》, 《Lưu Ý - 刘懿》, 《Lý Trọng Huyền - 李仲璇》, hội tụ làm một.” Cùng năm khắc với 《Long Tàng Tự Bi》 là 《Trọng Tư Na Tứ Thập Nhân Tạo Kiều Bi - 仲思那四十人造桥碑》dụng bút phương chiết, điểm hoạch tuấn lợi, phách lực hùng cường, lấy khí dương cương để thắng, với 《Cao Trinh Bi - 高贞碑》của Bắc Ngụy như cùng một khuôn đúc, do đó có thể thấy Tùy Bi kế thừa Ngụy Bi. Ngoài ra, trong 《Tào Thực Bi - 曹植碑》 (khắc lập năm 593) cũng có thể thấy di tích của Ngụy Bi, như Dương Thủ Kính đã nói: “Dụng bút vốn theo người Tề, thể kiêm Triện Lệ thì theo tập quán cũ của Bắc Ngụy. Nhưng bút pháp của nó thực tinh, thật có di ý Triện Lệ, không chỉ như các bia 《Lý Trọng Huyền》 chỉ giống bề ngoài.”
Nhà Tùy tuy lịch sử ngắn, nhưng trong lịch sử thư pháp lại là một thời kỳ vô cùng quan trọng. Bởi vì, trong 37 năm ngắn ngủi này, thư pháp đã hoàn thành quá độ từ tùy ý đến chuộng pháp độ. Nó kế thừa dư âm kỳ tứ hiểm tuấn, cổ chuyết phác hậu của Ngụy Tấn Nam Bắc Triều, mở đầu cho pháp độ nghiêm cẩn, nghiêm chỉnh quy phạm của đời Đường. Trong bia khắc thời Tùy khá thành thục, đều có thể phát hiện bóng dáng của Đường Khải; như 《Đổng Mỹ Nhân Mộ Chí - 董美人墓志》, 《Tô Từ Mộ Chí - 苏慈墓志》với vẻ tinh công tú mỹ, 《Tào Thực Miếu Bi - 曹植庙碑》với vẻ thuần hậu cổ chuyết, 《Hạ Nhược Nghị Bi - 贺若谊碑》với vẻ đoan chính phương đĩnh, 《Tín Hành Thiền Sư Chuyên Tháp Minh - 信行禅师砖塔铭》với vẻ quân xưng tinh năng, thực sự mở đầu cho Âu Dương Tuân 欧阳询, Ngu Thế Nam 虞世南, Chử Toại Lương 褚遂良, Nhan Chân Khanh 颜真卿. Như Diệp Xương Ký - 叶昌炽 trong 《Ngữ Thạch - 语石》đã nói: “Tùy Bi kế thừa lục đại ở trên, mở đường cho tam Đường ở dưới, từ tiểu Triện và bát phân chuyển sang Lệ Khải, đến đây thì khéo léo và lực lượng đều đạt. Thần minh biến hóa, mà không rời khỏi quy củ, có lẽ sau thời hiểm quái, dần vào thời bằng phẳng. Mà trong sự chỉnh tề, vẫn còn hồn cổ. Cổ pháp chưa mất, tinh hoa đã tiết ra. Tinh nghệ của các nhà Âu, Ngu, Chử, Từ, Lý, Nhan, Liễu đời Đường, không gì không có. Đây thực sự là một bước ngoặt lớn của thư học cổ kim.”
Thư pháp từ Tùy vào Đường, không có sự biến hóa rõ rệt. Ngu Thế Nam, Âu Dương Tuân sơ Đường đều làm quan dưới triều Tùy, hoạt động thư pháp của họ đã bắt đầu từ thời Nam Bắc Triều, thư phong cũng đã hình thành, tác phẩm thư pháp có bóng dáng Ngụy Bi rõ rệt. Vì vậy, thư phong Đường sơ, nói là tiếp nối triều Tùy, chi bằng nói là tiếp nối thư phong Nam Bắc Triều. Âu Dương Tuân nguyên là thư pháp gia nhà Trần Nam Triều, thời trẻ học thư pháp “Nhị Vương”, thư pháp của ông chịu ảnh hưởng khá sâu của Ngụy Bi, tác phẩm nổi tiếng nhất 《Cửu Thành Cung Lễ Tuyền Minh - 九成宫醴泉铭》chính là từ Bắc Bi mà ra. Khải thư của Ngu Thế Nam tinh thần nội liễm, lấy vận để thắng, càng gần với thư phong mộ chí Bắc Ngụy.
Thư pháp thời thịnh Đường thể hiện một loại phong cách hùng hồn cương kiện, đại khí bàng bạc. Thư phong này vừa là biểu hiện của quốc lực nhà Đường ngày càng cường thịnh, vừa là sự phản kháng của thư gia thịnh Đường đối với thư phong nghiêm cẩn, xung hòa, thanh nhã của thư gia sơ Đường. Trong đó nhân vật có tính đại biểu nhất là Lý Ung 李邕 và Nhan Chân Khanh 颜真卿.
Tác phẩm bia khắc của Lý Ung phần nhiều là Hành thư, dụng bút trầm thực mà giàu đàn lực, điểm họa thanh kình, chữ thế linh động, thần thái phi dương, thể thái lấy khéo léo kiêm thô mộc, ngây thơ chất phác. Phong cách này, có thể tìm thấy manh mối từ đề ngạch của 《Tiêu Đạm Bi - 萧憺碑》thời Nam Triều. Nhan Chân Khanh thì lại càng là người tập đại thành. Bút pháp của Chử Toại Lương, Trương Húc và thư phong hùng hồn bôn phóng của Lý Ung, đều là nguồn suối của thư pháp Nhan Chân Khanh. Tác phẩm bia khắc do Nhan Chân Khanh viết, dụng bút trầm thực, điểm họa đầy đặn hồn hậu, từ đó có thể thấy được phong thái ma nhai khắc đá Bắc Triều; tác phẩm nổi tiếng của ông 《Đông Phương Sóc Họa Tán - 东方朔画赞》viên hồn tù hậu, về phong cách gần với 《Trịnh Văn Công Bi - 郑文公碑》và 《Luận Kinh Thư Thi - 论经书诗》, chỉ có điều so với hai tác phẩm sau thì càng chú trọng pháp độ, càng nghiêm cẩn hơn mà thôi. Như Lưu Hi Tái đã nói: “Chân thư của Nhan Lỗ Công 颜鲁公, có người nói xuất phát từ Bắc Bi 《Cao Thực Mộ Chí - 高植墓志》và 《Thái Công Lã Vọng Biểu - 太公吕望表》do Mục Tử Dung 穆子容 viết, lại có người nói Hành thư của ông giống với mấy hàng Hành thư sau 《Trương Mãnh Long Bi - 张猛龙碑》, những điều này đều gần đúng.” “Lỗ Công viết 《Tống Quảng Bình Bi - 宋广平碑》, uyển chuyển hàm súc, khiến người ta nếm mãi không thôi. … Đến như tiền nhân nói ông xuất phát từ 《Ý Hạc Minh - 瘗鹤铭》, cũng là lời nói hiểu biết.” Sau Nhan Chân Khanh, Liễu Công Quyền柳公权 là người nổi tiếng nhất, thực sự là nhân vật độc lĩnh phong tao của thư pháp vãn Đường. Liễu Công Quyền thu thái chúng trường, cuối cùng thành đại gia. Từ chỗ thủ pháp của ông mà xem, cũng chủ yếu là Ngụy Bi và tác phẩm thời Tùy Đường. Lưu Hi Tái nói: “Thư của Liễu Thành Huyền - 柳诚悬, 《Lý Thịnh Bi - 李晟碑》xuất phát từ 《Hóa Độ Tự - 化度寺》của Âu, 《Huyền Bí Tháp - 玄秘塔》xuất phát từ 《Quách Gia Miếu - 郭家庙》của Nhan.” Khang Hữu Vi trong 《Quảng Nghệ Chu Song Tiếp》 nói: “Thành Huyền là người biến cách của Âu, nhưng thanh kình tuấn bạt, cùng với Trầm Truyền Sư 沈传师, Bùi Hưu 裴休 phần nhiều xuất phát từ Tề Bi.”
2. Ảnh hưởng đối với thư pháp đời Tống
Thư pháp phát triển đến đời Tống, bắt đầu từ “chuộng pháp độ” chuyển sang con đường “chuộng ý vị”, thư pháp bia khắc thì đi vào ngõ cụt, nhưng điều này không loại trừ ảnh hưởng của thư pháp Ngụy Bi đối với người đời Tống. Thư gia đời Tống chú trọng sự trương dương cá tính, nhưng không bài xích tác dụng của Ngụy Bi, hơn nữa, trong tác phẩm của họ ít nhiều cũng có dấu vết của Ngụy Bi. Tô Đông Pha 苏东坡 tuy tự xưng “thư của ta là ý tạo, vốn không có pháp, điểm hoạch viết theo tay, phiền gì phải suy cầu”. Thực tế, Tô Thức đã dành rất nhiều công phu cho thư pháp. Hoàng Đình Kiên nói: “Đông Pha đạo nhân thời trẻ học Lan Đình, nên thư của ông tư mị giống Từ Quý Hải 徐季海, đến khi rượu say phóng lãng, quên cả cổ chuyết, chữ đặc biệt gầy kình giống Liễu Thành Huyền. Trung niên thích học Nhan Lỗ Công, Dương Phong Tử杨风子, chỗ hợp cách không kém Lý Bắc Hải.” Lương Ngạn 梁巘 đời Thanh trong 《Thừa Tấn Trai Tích Văn Lục - 承晋斋积闻录》nói: “Chữ của Tô Đông Pha, Hoàng Sơn Cốc 黄山谷, nét phiết nạp kéo ra, tư thái đãng dật, đều bắt nguồn từ 《Ý Hạc Minh》.” Đúng vậy, Tô Đông Pha viết 《La Trì Miếu Bi - 罗池庙碑》, các chữ “Đan”, “Hạc”, “Thọ” trong đó rất giống với 《Ý Hạc Minh》. Ngoài ra, sự phong du điệt đãng trong vận bút của ông, ẩn khéo léo trong thô mộc, cùng phong cách tù kình cổ nhã, cũng cùng một mạch với một số tác phẩm trong Vân Phong Sơn khắc thạch. Hoàng Đình Kiên chịu ảnh hưởng của 《Ý Hạc Minh》 nhiều nhất, ông đối với 《Ý Hạc Minh》 cũng vô cùng tôn sùng, gọi nó là “tổ của chữ lớn”. Ngô Đức Toàn - 吴德旋 đời Thanh nói: “Sơn Cốc viết chữ lớn học 《Ý Hạc Minh》, cốt thể tiễu khoái mà quá hào phóng, cũng thành một loại tập khí.” Ngoài ra, Thảo thư của Hoàng Đình Kiên cũng chịu ảnh hưởng của phong cách tiêu sái phi dật của 《Thạch Môn Minh》.
3. Ảnh hưởng đối với thư pháp đời Thanh
Đến đời Thanh, cùng với sự suy tàn của Thiếp học và quốc lực ngày càng đi xuống, văn nhân, sĩ đại phu cuối cùng đã tìm ra một bước đột phá để vãn hồi cục diện, Bi học từ đó hưng khởi. Sự hưng khởi của Bi học khiến Ngụy Bi đã ngủ yên hơn một nghìn năm có được sinh mệnh mới, khiến người ta đặt Ngụy Bi trong bối cảnh lịch sử xã hội, nhìn nhận lại, định vị lại, đánh giá lại giá trị của nó. Có thể nói, sau khi Bi học hưng khởi, thư pháp đời Thanh quét sạch tập khí của Thiếp học. Từ đầu đời Thanh trở đi, người thân thể lực hành, ra sức đề xướng Bi học không phải là ít. Xét theo niên đại, từ đầu Thanh đến Càn Gia 乾嘉(Càn Long , Gia Khánh) , có Trịnh Phủ郑簠, Vương Thụ王澍; từ Gia Khánh 嘉庆 đến Quang Tự光绪, có Đặng Thạch Như 邓石如, Nguyễn Nguyên 阮元, Bao Thế Thần 包世臣, Triệu Chi Khiêm 赵之谦 v.v..., họ hoặc tự mình thực hành, hoặc trước tác lập thuyết. Từ trung kỳ Quang Tự đến đầu Dân Quốc, thì có cự phách của giới thư pháp là Khang Hữu Vi ra sức hô hào. Những danh gia này không chỉ dựa vào thực tiễn thư pháp của bản thân để đề xướng Bi học, mà còn lợi dụng địa vị của mình để gây ảnh hưởng đến giới thư pháp đời Thanh. Sự hưng khởi của Bi học, khiến thư pháp bia khắc Nam Bắc Triều được thừa nhận rộng rãi, đồng thời cũng xác lập quan niệm mỹ học thư pháp lấy cương kiện, chất phác, tự nhiên làm chuẩn tắc. Vương Thụ 王澍, nhà kim thạch học nổi tiếng thời Ung Chính 雍正, Càn Long 乾隆, đã từng đưa ra quan điểm “Giang Nam đủ bản rập, không bằng Hà Bắc bia vỡ”, có sức cổ xúy mạnh mẽ cho thư phong bia khắc. Khang Hữu Vi thì lại càng đưa ra quan điểm cực đoan “Ngụy Bi không cái nào không hay, tuy là tạo tượng của con trai gái nơi cùng hương, mà cốt huyết tuấn đãng, trong thô mộc dày dặn đều có dị thái, cấu chữ cũng chặt chẽ phi thường”, và đã giáng thấp bia đời Đường: “Luận thư không lấy bia đời Đường, không chỉ vì nó nông cạn. Bình tâm mà nói, Âu, Ngu vào Đường, tuổi đã xế chiều, đây thực là người lục triều. Bút pháp của Chử, Tiết, thanh hư cao giản, … Bia của các nhà Âu, Ngu, Nhan, Liễu, mài dập đã hỏng, danh tuy tôn Đường, thực chất là tôn bản gỗ táo đã biến đổi. … Huống chi bản rập lục triều, đều hoàn hảo không tổn, xuất thổ ngày càng mới, gần như bản rập đầu tiên, từ đây mà vào, liền có thể tranh đường với Âu, Ngu, lẽ nào lại gửi thân dưới bóng người Đường, cục xúc mà không thành gì.”
Từ đời Thanh trở đi, những người thành danh rực rỡ trong thư pháp Ngụy Bi có Trương Dụ Chiêu 张裕钊, Triệu Chi Khiêm 赵之谦, Dương Thủ Kính 杨守敬, Khang Hữu Vi 康有为, Lý Thụy Thanh 李瑞清, Lương Khải Siêu 梁启超 v.v...
Kết luận : Nhìn nhận Ngụy Bi như thế nào ?
Từ góc độ văn hóa học mà nói, nghệ thuật thư pháp Ngụy Bi là kết tinh của sự dung hợp giữa văn hóa Trung Nguyên và văn hóa Tiên Ti. Sự xuất hiện của Ngụy Bi, vừa thể hiện sức xung kích to lớn của văn hóa ngoại tộc, vừa thể hiện sức dung hợp to lớn của văn hóa Trung Nguyên. Ngụy Bi là sự biến dị của Hán Lệ, là hình thái sơ khai của Đường Khải. Theo ý thức văn hóa lấy dân tộc Hán làm bản vị trong lịch sử mà nói, Ngụy Bi là chưa thành thục. Tuy nhiên, chính cái “chưa thành thục” ấy đã để lại không gian to lớn cho sự phát triển của nó. Nó lại giống như đất dùng để làm gốm, như quặng dùng để luyện kim, có thể chế thành đồ gốm tinh mỹ, có thể luyện ra gang thép thuần chính. Có thể nói, nó là nguồn suối nghệ thuật lấy không hết, dùng không cạn.
Trong vấn đề đối đãi với Ngụy Bi, nên tránh nhận thức phiến diện. Có người đè nó xuống quá thấp, cho rằng đó là đường tà, là “dã hồ thiền” không thể lên được nhà lớn, cho rằng “Nhị Vương” và Đường Khải mới là chính tông của thư pháp, coi người học Ngụy Bi là không đi đường chính, lạc vào đường tà. Cũng có người nâng nó lên quá cao, cho rằng đó là linh đan diệu dược, chỉ cần viết Ngụy Bi là có thể giải quyết mọi vấn đề như ngai bản, ngàn bài một điệu, chữ như que tính v.v..., từ đó phủ định con đường mà người khác đã đi. Hai khuynh hướng này đều không chính xác.
Thứ nhất, Ngụy Bi thực sự có giá trị nghệ thuật độc đáo của nó, nó có sức sống, sức ngưng tụ và sức bùng nổ rất mạnh, có một loại hoạt lực nội tại, có một loại dã tính, mang đến cho người ta cảm giác mạnh mẽ, hùng hồn, không bị trói buộc, trong đó có nhiều dưỡng chất có thể hấp thụ. Nhiều thư gia truyền thống chính là từ Ngụy Bi mà được khải phát, được tá giám để đưa nghệ thuật thư pháp lên một tầm cao mới.
Thứ hai, nói chung, Ngụy Bi thực sự là thư thể chưa thành thục, nó có nhiều chỗ không hoàn mỹ, tùy hứng, tùy tiện, vì vậy, nó vẫn là bán thành phẩm, là phôi thai mà chưa phải là thành khí. Bất kể là điểm họa hay kết cấu, trong đó thực sự có nhiều chỗ không hợp lý, quái đản thậm chí xấu xí. Như Sa Mạnh Hải沙孟海 tiên sinh đã nói: “Tạo tượng Bắc Ngụy, Bắc Tề nhiều nhất, trong đó một bộ phận viết loạn khắc loạn, thậm chí không viết mà khắc, nét chữ vụng về, chúng ta không thể nhất loạt cho là giai tác. Nhưng những nét chữ này phần nhiều có vẻ đẹp tự nhiên, có thể thủ pháp, đó là chuyện khác.” Vì vậy, nhiều tác phẩm Ngụy Bi chỉ có thể lấy ý của nó, không thể lấy nó làm pháp.
Cuối cùng, phải khéo học tập, lấy cái dài mà tránh cái ngắn. Lợi ích lớn nhất của việc học Ngụy Bi là có thể rèn luyện sức cổ tay, dám hạ bút, không có quá nhiều khuôn khổ, nhưng cũng dễ viết chữ quá cứng nhắc, quá phóng túng, quá nanh nọc. Cá nhân tôi thể hội là, học Ngụy Bi chính là để đánh chắc công phu hình chất của điểm họa, rèn luyện đảm lượng và phách lực, cuối cùng vẫn phải quay trở về bản nguyên của thư pháp, đó là phương chính, đoan trang, ôn nhuận, đại khí, hài hòa, tự nhiên.
Lưu Vận Phong sinh năm 1963, giáo sư Văn học viện Đại học Nam Khai, nghiên cứu sinh hướng dẫn tiến sĩ; hội viên Hội Thư pháp gia Trung Quốc, ủy viên Hội Thư pháp gia Thiên Tân, chủ nhiệm Ủy ban Giáo dục; ủy viên Ủy ban Giáo dục Nghiên cứu sinh Chuyên ngành Xuất bản Toàn quốc; năm 2017 được chọn vào nhân tài lãnh đạo ngành báo chí xuất bản toàn quốc.
《Quang Minh nhật báo》 - 光明日报
Chú thích :
BẢNG CHÚ THÍCH
I. THUẬT NGỮ THƯ PHÁP CHUNG
|
STT |
Nguyên văn |
Phiên âm Hán Việt |
Giải nghĩa |
|
1 |
魏碑 |
Ngụy Bi |
Thư pháp bia khắc thời Bắc Ngụy (386–534) và các triều đại liên quan (Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu). Đặc trưng bởi Phương bút, kết thể chặt khỏe, hùng hồn. Là thư thể chuyển tiếp từ Lệ thư sang Khải thư. |
|
2 |
北碑 |
Bắc Bi |
Tên gọi khác của Ngụy Bi, do thư pháp bia khắc thời Bắc Ngụy đạt trình độ cao nhất trong các triều đại Bắc Triều. |
|
3 |
元魏 |
Nguyên Ngụy |
Tên gọi khác của Bắc Ngụy, do hoàng tộc họ Thác Bạt (拓跋) đổi thành họ Nguyên (元) vào năm 496. |
|
4 |
南北朝 |
Nam Bắc Triều |
Thời kỳ lịch sử Trung Quốc từ 420 đến 589, chia thành Nam Triều (Tống, Tề, Lương, Trần) và Bắc Triều (Bắc Ngụy, Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu). |
|
5 |
造像记 |
Tạo tượng ký |
Văn bản ghi việc tạo tượng Phật, khắc trên đá, thường ở hang động Phật giáo. |
|
6 |
碑刻 |
Bi khắc |
Bia đá khắc chữ, thường dựng trước mộ hoặc nơi công cộng. |
|
7 |
墓志铭 |
Mộ chí minh |
Văn bia chôn theo mộ, ghi tiểu sử, công trạng người chết. |
|
8 |
摩崖 |
Ma nhai |
Chữ khắc trực tiếp trên vách núi đá tự nhiên. |
|
9 |
书丹 |
Thư đan |
Viết chữ bằng mực đỏ lên đá trước khi khắc. |
|
10 |
隶书 |
Lệ thư |
Thể chữ phổ biến thời Hán, nét ngang dày, có ba trét, tiền thân của Khải thư. |
|
11 |
楷书 |
Khải thư |
Thể chữ chân phương, chuẩn mực, phát triển rực rỡ thời Đường. |
|
12 |
正书 |
Chính thư |
Thể chữ chính, bao gồm Khải thư. |
|
13 |
方笔 |
Phương bút |
Bút pháp vuông vức, góc cạnh, dứt khoát. |
|
14 |
圆笔 |
Viên bút |
Bút pháp tròn trịa, ẩn nhẫn. |
|
15 |
波磔 |
Ba trét |
Nét sóng (波) và nét phẩy (磔) đặc trưng của Lệ thư. |
|
16 |
天趣 |
Thiên thú |
Vẻ đẹp tự nhiên, hồn nhiên, không gò bó. |
|
17 |
金石气 |
Kim thạch khí |
Khí chất cổ xưa của đồ đồng, bia đá. |
|
18 |
庙堂之气 |
Miếu đường chi khí |
Khí chất trang nghiêm nơi triều đình. |
|
19 |
山岳之气 |
Sơn nhạc chi khí |
Khí chất hùng vĩ của núi non. |
|
20 |
行气线 |
Hành khí tuyến |
Đường nét liên kết giữa các chữ trong một hàng. |
|
21 |
一波三折 |
Nhất ba tam chiết |
Bút pháp có nhiều đoạn chuyển cong. |
|
22 |
大字之祖 |
Đại tự chi tổ |
Tổ sư của chữ viết lớn, chỉ 《Ý Hạc Minh》. |
|
23 |
回腕 |
Hồi uyển |
Pháp xoay cổ tay khi viết. |
|
24 |
漆书 |
Tất thư |
Lối chữ của Kim Nông, nét dày, cổ chuyết. |
|
25 |
孩儿体 |
Hài nhi thể |
Phong cách chữ ngây thơ như trẻ con của Tạ Vô Lượng. |
|
26 |
衰年变法 |
Suy niên biến pháp |
Biến đổi phong cách khi về già, như Tề Bạch Thạch. |
|
27 |
与古为徒 |
Dữ cổ vi đồ |
Làm học trò của cổ nhân. |
|
28 |
与天为徒 |
Dữ thiên vi đồ |
Làm học trò của trời. |
|
29 |
磨穿铁砚 |
Ma xuyên thiết nghiễn |
Mài mòn nghiên sắt, chỉ sự khổ luyện. |
|
30 |
透过刀锋看笔锋 |
Thấu quá đao phong khán bút phong |
Xuyên qua mũi dao nhìn ngọn bút. |
|
31 |
二重证据法 |
Nhị trùng chứng cứ pháp |
Phương pháp của Vương Quốc Duy, kết hợp văn hiến khảo cổ và truyền thế. |
|
32 |
金石学 |
Kim thạch học |
Ngành học nghiên cứu văn tự khắc trên đồ đồng, bia đá. |
|
33 |
碑学 |
Bi học |
Trào lưu học thư pháp từ bia đá, thịnh hành từ Vãn Thanh. |
|
34 |
帖学 |
Thiếp học |
Trào lưu học thư pháp từ các bản thiếp. |
|
35 |
尚法 |
Thượng pháp |
Chuộng pháp độ. |
|
36 |
尚意 |
Thượng ý |
Chuộng ý vị. |
|
37 |
馆阁体 |
Quán Các thể |
Lối chữ quan phương thời Minh – Thanh, đều đặn, quy phạm nhưng thiếu sinh khí. |
|
38 |
枣木 |
Tảo mộc |
Gỗ táo, dùng làm bản khắc in, ý chỉ bản in kém chất lượng. |
|
39 |
翻变之枣木 |
Phiên biến chi tảo mộc |
Bản khắc lại từ gỗ táo, chỉ bản in đã qua nhiều lần sao chép, mất đi chân ý. |
|
40 |
野狐禅 |
Dã hồ thiền |
Thiền ngoại đạo, chỉ sự không chính thống. |
II. TÊN TÁC PHẨM BIA KHẮC, MỘ CHÍ, MA NHAI
|
STT |
Nguyên văn |
Phiên âm Hán Việt |
Giải nghĩa |
|
1 |
龙门二十品 |
Long Môn nhị thập phẩm |
20 tạo tượng ký tiêu biểu ở hang đá Long Môn, Lạc Dương, Hà Nam, thời Bắc Ngụy. Đại diện đỉnh cao của Ngụy Bi. |
|
2 |
龙门四品 |
Long Môn tứ phẩm |
Bốn phẩm nổi nhất trong Long Môn nhị thập phẩm: Thủy Bình Công, Dương Đại Nhãn, Ngụy Linh Tàng, Tôn Thu Sinh. |
|
3 |
始平公造像记 |
Thủy Bình Công tạo tượng ký |
Một trong Long Môn tứ phẩm, nổi tiếng nhất, dùng kỹ thuật khắc nổi (dương khắc). |
|
4 |
杨大眼造像记 |
Dương Đại Nhãn tạo tượng ký |
Một trong Long Môn tứ phẩm. |
|
5 |
魏灵藏造像记 |
Ngụy Linh Tàng tạo tượng ký |
Một trong Long Môn tứ phẩm. |
|
6 |
孙秋生造像记 |
Tôn Thu Sinh tạo tượng ký |
Một trong Long Môn tứ phẩm. |
|
7 |
齐郡王元佑造像记 |
Tề Quận Vương Nguyên Hựu tạo tượng ký |
Một trong Long Môn nhị thập phẩm. |
|
8 |
张猛龙碑 |
Trương Mãnh Long Bi |
Bia nổi tiếng thời Bắc Ngụy (522), phong cách thanh tuấn tú dật. |
|
9 |
马鸣寺碑 |
Mã Minh Tự Bi |
Bia chùa Mã Minh thời Bắc Ngụy. |
|
10 |
张玄墓志 |
Trương Huyền Mộ Chí |
Còn gọi là Trương Hắc Nữ Mộ Chí, phong cách tú lệ nhàn nhã. |
|
11 |
崔敬邕墓志 |
Thôi Kính Ung Mộ Chí |
Mộ chí thời Bắc Ngụy. |
|
12 |
石门铭 |
Thạch Môn Minh |
Ma nhai thời Bắc Ngụy (509), phong cách kỳ dật sái thoát. |
|
13 |
论经书诗 |
Luận Kinh Thư Thi |
Ma nhai của Trịnh Đạo Chiêu, phong cách hùng hồn bác đại. |
|
14 |
瘗鹤铭 |
Ý Hạc Minh |
Ma nhai thời Nam Lương, được tôn là “tổ của chữ lớn”. |
|
15 |
郑文公碑 |
Trịnh Văn Công Bi |
Bia của Trịnh Đạo Chiêu, phong cách hùng hồn bác đại. |
|
16 |
泰山经石峪金刚经 |
Thái Sơn Kinh Thạch Vụ Kim Cang Kinh |
Ma nhai khắc kinh Kim Cang, chữ lớn, hùng vĩ. |
|
17 |
爨龙颜碑 |
Thoán Long Nhan Bi |
Bia nổi tiếng thời Lưu Tống (485) ở Vân Nam. |
|
18 |
爨宝子碑 |
Thoán Bảo Tử Bi |
Bia nổi tiếng thời Đông Tấn ở Vân Nam. |
|
19 |
中岳嵩高灵庙碑 |
Trung Nhạc Tung Cao Linh Miếu Bi |
Bia thời Bắc Ngụy (456), chuyển từ Lệ sang Khải. |
|
20 |
萧憺碑 |
Tiêu Đạm Bi |
Bia thời Nam Lương (523), phong cách phương chính mậu mật. |
|
21 |
高贞碑 |
Cao Trinh Bi |
Bia thời Bắc Ngụy (523), phong cách phương chính mậu mật. |
|
22 |
马鸣寺根法师碑 |
Mã Minh Tự Căn Pháp Sư Bi |
Bia chùa Mã Minh thời Bắc Ngụy (523). |
|
23 |
龙藏寺碑 |
Long Tàng Tự Bi |
Bia thời Tùy (586), đoan trang tĩnh mục. |
|
24 |
董美人墓志 |
Đổng Mỹ Nhân Mộ Chí |
Mộ chí thời Tùy. |
|
25 |
苏慈墓志 |
Tô Từ Mộ Chí |
Mộ chí thời Tùy. |
|
26 |
九成宫醴泉铭 |
Cửu Thành Cung Lễ Tuyền Minh |
Tác phẩm khải thư của Âu Dương Tuân thời Đường. |
|
27 |
东方朔画赞 |
Đông Phương Sóc Họa Tán |
Tác phẩm của Nhan Chân Khanh thời Đường. |
|
28 |
祭侄文稿 |
Tế Điệt Văn Cảo |
Tác phẩm hành thư của Nhan Chân Khanh thời Đường. |
|
29 |
罗池庙碑 |
La Trì Miếu Bi |
Tác phẩm của Tô Thức thời Bắc Tống. |
|
30 |
李晟碑 |
Lý Thịnh Bi |
Tác phẩm của Liễu Công Quyền thời Đường. |
|
31 |
玄秘塔 |
Huyền Bí Tháp |
Tác phẩm của Liễu Công Quyền thời Đường. |
|
32 |
元桢墓志 |
Nguyên Trinh Mộ Chí |
Mộ chí thời Bắc Ngụy, hiện ở Tây An Bi Lâm. |
|
33 |
仲思那四十人造桥碑 |
Trọng Tư Na Tứ Thập Nhân Tạo Kiều Bi |
Bia thời Tùy (586). |
|
34 |
曹植碑 |
Tào Thực Bi |
Bia thời Tùy (593). |
|
35 |
贺若谊碑 |
Hạ Nhược Nghị Bi |
Bia thời Tùy. |
|
36 |
信行禅师砖塔铭 |
Tín Hành Thiền Sư Chuyên Tháp Minh |
Bia thời Tùy. |
|
37 |
宋广平碑 |
Tống Quảng Bình Bi |
Tác phẩm của Nhan Chân Khanh. |
|
38 |
皇甫碑 |
Hoàng Phủ Bi |
Tác phẩm của Âu Dương Tuân. |
|
39 |
化度寺 |
Hóa Độ Tự |
Tác phẩm của Âu Dương Tuân. |
|
40 |
郭家庙 |
Quách Gia Miếu |
Tác phẩm của Nhan Chân Khanh. |
|
41 |
吊比干文 |
Điếu Tỷ Can Văn |
Bia khắc thời Bắc Ngụy. |
|
42 |
敬使君 |
Kính Sử Quân |
Bia khắc thời Bắc Ngụy. |
|
43 |
刘懿 |
Lưu Ý |
Bia khắc thời Bắc Ngụy. |
|
44 |
李仲璇 |
Lý Trọng Huyền |
Bia khắc thời Đông Ngụy. |
|
45 |
高植墓志 |
Cao Thực Mộ Chí |
Mộ chí thời Bắc Ngụy. |
|
46 |
太公吕望表 |
Thái Công Lã Vọng Biểu |
Bia do Mục Tử Dung viết thời Bắc Ngụy. |
|
47 |
登云峰山记 |
Đăng Vân Phong Sơn Ký |
Ma nhai của Trịnh Đạo Chiêu. |
|
48 |
天柱山铭 |
Thiên Trụ Sơn Minh |
Ma nhai của Trịnh Đạo Chiêu. |
|
49 |
东堪石室铭 |
Đông Kham Thạch Thất Minh |
Ma nhai của Trịnh Đạo Chiêu. |
|
50 |
匡喆刻经颂 |
Khuông Triết Khắc Kinh Tụng |
Ma nhai khắc kinh thời Bắc Tề. |
III. TÊN NHÂN VẬT LỊCH SỬ
|
STT |
Nguyên văn |
Phiên âm Hán Việt |
Giải nghĩa |
|
1 |
康有为 |
Khang Hữu Vi |
(1858–1927) Nhà cải cách, học giả, thư pháp gia. Tác giả 《Quảng Nghệ Chu Song Tiếp》, đề cao Ngụy Bi. |
|
2 |
刘运峰 |
Lưu Vận Phong |
Giáo sư Văn học viện Đại học Nam Khai, diễn giả bài này. |
|
3 |
孝文帝 |
Hiếu Văn Đế |
(467–499) Vua Bắc Ngụy, thực thi chính sách Hán hóa, thúc đẩy giao lưu văn hóa Nam Bắc. |
|
4 |
郑道昭 |
Trịnh Đạo Chiêu |
(?–516) Thư pháp gia, quan lại thời Bắc Ngụy, viết nhiều ma nhai ở Vân Phong Sơn. |
|
5 |
陶弘景 |
Đào Hoằng Cảnh |
(456–536) Đạo sĩ, thư pháp gia thời Nam Lương. |
|
6 |
寇谦之 |
Khấu Khiêm Chi |
(365–448) Đạo sĩ thời Bắc Ngụy. |
|
7 |
王远 |
Vương Viễn |
Thư pháp gia thời Bắc Ngụy, viết 《Thạch Môn Minh》. |
|
8 |
郑述祖 |
Trịnh Thuật Tổ |
Thư pháp gia thời Bắc Tề. |
|
9 |
赵文渊 |
Triệu Văn Uyên |
Thư pháp gia thời Bắc Chu. |
|
10 |
庾信 |
Dữ Tín |
(513–581) Văn nhân, thư pháp gia thời Bắc Chu. |
|
11 |
朱义章 |
Chu Nghĩa Chương |
Thư gia dân gian thời Bắc Ngụy. |
|
12 |
贝义渊 |
Bối Nghĩa Uyên |
Thư gia dân gian thời Bắc Ngụy. |
|
13 |
杨守敬 |
Dương Thủ Kính |
(1839–1915) Học giả, thư pháp gia cuối Thanh. |
|
14 |
刘熙载 |
Lưu Hi Tái |
(1813–1881) Thư luận gia đời Thanh, tác giả 《Nghệ Khái》. |
|
15 |
叶昌炽 |
Diệp Xương Ký |
Học giả đời Thanh, tác giả 《Ngữ Thạch》. |
|
16 |
沙孟海 |
Sa Mạnh Hải |
Thư pháp gia, học giả cận đại. |
|
17 |
邓石如 |
Đặng Thạch Như |
(1743–1805) Thư pháp gia đời Thanh, học Ngụy Bi. |
|
18 |
阮元 |
Nguyễn Nguyên |
(1764–1849) Học giả, quan lại đời Thanh, đề xướng Nam Bắc thư phái luận. |
|
19 |
包世臣 |
Bao Thế Thần |
(1775–1855) Thư luận gia, thư pháp gia đời Thanh. |
|
20 |
赵之谦 |
Triệu Chi Khiêm |
(1829–1884) Thư pháp gia, họa gia, khắc ấn đời Thanh. |
|
21 |
张裕钊 |
Trương Dụ Chiêu |
(1823–1894) Thư pháp gia đời Thanh, sáng tạo phong cách độc đáo. |
|
22 |
李瑞清 |
Lý Thụy Thanh |
(1867–1920) Thư pháp gia Vãn Thanh, chuyên lâm Bắc Bi. |
|
23 |
梁启超 |
Lương Khải Siêu |
(1873–1929) Học giả, nhà cải cách, thư pháp gia. |
|
24 |
欧阳询 |
Âu Dương Tuân |
(557–641) Thư pháp gia sơ Đường, tứ đại gia Khải thư. |
|
25 |
虞世南 |
Ngu Thế Nam |
(558–638) Thư pháp gia sơ Đường, tứ đại gia Khải thư. |
|
26 |
褚遂良 |
Chử Toại Lương |
(596–658) Thư pháp gia sơ Đường, tứ đại gia Khải thư. |
|
27 |
薛稷 |
Tiết Tắc |
(649–713) Thư pháp gia sơ Đường, tứ đại gia Khải thư. |
|
28 |
颜真卿 |
Nhan Chân Khanh |
(709–785) Thư pháp gia đời Đường, khải thư hùng hậu. |
|
29 |
柳公权 |
Liễu Công Quyền |
(778–865) Thư pháp gia đời Đường, khải thư thanh kình. |
|
30 |
李邕 |
Lý Ung |
(678–747) Thư pháp gia đời Đường, hành thư nổi tiếng. |
|
31 |
张旭 |
Trương Húc |
(khoảng 675–750) Thư pháp gia đời Đường, cuồng thảo. |
|
32 |
苏东坡 |
Tô Đông Pha |
(1037–1101) Tức Tô Thức, đại văn hào, thư pháp gia Bắc Tống. |
|
33 |
黄庭坚 |
Hoàng Đình Kiên |
(1045–1105) Thư pháp gia Bắc Tống, một trong Tống tứ gia. |
|
34 |
米芾 |
Mễ Phất |
(1051–1107) Thư pháp gia Bắc Tống, một trong Tống tứ gia. |
|
35 |
何绍基 |
Hà Thiệu Cơ |
(1799–1873) Thư pháp gia đời Thanh. |
|
36 |
胡鼻山 |
Hồ Tị Sơn |
Thư pháp gia đời Thanh. |
|
37 |
徐树钧 |
Từ Thụ Quân |
Học giả đời Thanh. |
|
38 |
陆增祥 |
Lục Tằng Tường |
Học giả đời Thanh, tác giả 《Bát Quỳnh Thất Kim Thạch Bổ Chính》. |
|
39 |
张宗祥 |
Trương Tông Tường |
Học giả cận đại, tác giả 《Thư Học Nguyên Lưu Luận》. |
|
40 |
姚华 |
Diêu Hoa |
Học giả, thư pháp gia cuối Thanh đầu Dân Quốc. |
|
41 |
梁巘 |
Lương Ngạn |
Thư pháp gia, thư luận gia đời Thanh. |
|
42 |
吴德旋 |
Ngô Đức Toàn |
Thư luận gia đời Thanh. |
|
43 |
无不可斋主 |
Vô Bất Khả Trai Chủ |
Biệt hiệu của một học giả, thư pháp gia. |
|
44 |
曹士冕 |
Tào Sĩ Miện |
Học giả đời Tống. |
|
45 |
王世贞 |
Vương Thế Trinh |
Văn nhân đời Minh. |
|
46 |
黄伯思 |
Hoàng Bá Tư |
Học giả Bắc Tống, tác giả 《Đông Quan Dư Luận》. |
|
47 |
王澍 |
Vương Thụ |
Nhà kim thạch học thời Ung Chính, Càn Long. |
|
48 |
郑簠 |
Trịnh Phủ |
Thư pháp gia đầu Thanh. |
|
49 |
沈传师 |
Trầm Truyền Sư |
Thư pháp gia đời Đường. |
|
50 |
裴休 |
Bùi Hưu |
Thư pháp gia đời Đường. |
|
51 |
杨风子 |
Dương Phong Tử |
Tức Dương Ngưng Thức, thư pháp gia Ngũ Đại. |
|
52 |
徐季海 |
Từ Quý Hải |
Tức Từ Hạo, thư pháp gia đời Đường. |
|
53 |
穆子容 |
Mục Tử Dung |
Thư pháp gia thời Bắc Ngụy. |
|
54 |
李北海 |
Lý Bắc Hải |
Tức Lý Ung. |
|
55 |
柳诚悬 |
Liễu Thành Huyền |
Tức Liễu Công Quyền. |
|
56 |
颜鲁公 |
Nhan Lỗ Công |
Tức Nhan Chân Khanh. |
IV. TÊN SÁCH, TÁC PHẨM LÝ LUẬN
|
STT |
Nguyên văn |
Phiên âm Hán Việt |
Giải nghĩa |
|
1 |
广艺舟双楫 |
Quảng Nghệ Chu Song Tiếp |
Tác phẩm thư luận của Khang Hữu Vi, tổng kết “Thập Mỹ” của Ngụy Bi. |
|
2 |
艺舟双楫 |
Nghệ Chu Song Tiếp |
Tác phẩm của Bao Thế Thần đời Thanh. |
|
3 |
语石 |
Ngữ Thạch |
Tác phẩm khảo cứu bia đá của Diệp Xương Ký. |
|
4 |
艺概 |
Nghệ Khái |
Tác phẩm thư luận của Lưu Hi Tái. |
|
5 |
八琼室金石补正 |
Bát Quỳnh Thất Kim Thạch Bổ Chính |
Tác phẩm của Lục Tằng Tường. |
|
6 |
书学源流论 |
Thư Học Nguyên Lưu Luận |
Tác phẩm của Trương Tông Tường. |
|
7 |
东观余论 |
Đông Quan Dư Luận |
Tác phẩm của Hoàng Bá Tư. |
|
8 |
承晋斋积闻录 |
Thừa Tấn Trai Tích Văn Lục |
Tác phẩm của Lương Ngạn. |
|
9 |
论书绝句 |
Luận Thư Tuyệt Cú |
Tác phẩm của Khải Công. |
|
10 |
说文解字 |
Thuyết Văn Giải Tự |
Từ điển chữ Hán cổ của Hứa Thận đời Đông Hán. |
|
11 |
道德经 |
Đạo Đức Kinh |
Tác phẩm của Lão Tử. |
|
12 |
周礼·考工记 |
Chu Lễ • Khảo Công Ký |
Phần trong 《Chu Lễ》 ghi chép về kỹ thuật chế tác. |
V. ĐỊA DANH, DI TÍCH
|
STT |
Nguyên văn |
Phiên âm Hán Việt |
Giải nghĩa |
|
1 |
龙门 |
Long Môn |
Hang đá Phật giáo ở Lạc Dương, Hà Nam, nơi có nhiều tạo tượng ký Bắc Ngụy. |
|
2 |
云峰山 |
Vân Phong Sơn |
Núi ở Lai Châu, Sơn Đông, nơi có nhiều ma nhai của Trịnh Đạo Chiêu. |
|
3 |
天柱山 |
Thiên Trụ Sơn |
Núi ở Bình Độ, Sơn Đông, nơi có ma nhai của Trịnh Đạo Chiêu. |
|
4 |
泰山 |
Thái Sơn |
Núi nổi tiếng ở Sơn Đông, nơi có ma nhai khắc kinh Kim Cang. |
|
5 |
焦山 |
Tiêu Sơn |
Núi ở Trấn Giang, Giang Tô, nơi có 《Ý Hạc Minh》. |
|
6 |
西安碑林 |
Tây An Bi Lâm |
Bảo tàng bia đá nổi tiếng ở Tây An, Thiểm Tây. |
|
7 |
南开大学 |
Đại học Nam Khai |
Trường đại học danh tiếng ở Thiên Tân, Trung Quốc. |
|
8 |
陕西师范大学 |
Đại học Sư phạm Thiểm Tây |
Trường đại học ở Tây An, Thiểm Tây. |
|
9 |
中国美术学院 |
Học viện Mỹ thuật Trung Quốc |
Trường đại học nghệ thuật danh tiếng ở Hàng Châu. |
|
10 |
华南师范大学 |
Đại học Sư phạm Hoa Nam |
Trường đại học ở Quảng Châu, Quảng Đông. |
|
11 |
光明日报 |
Quang Minh nhật báo |
Báo lớn của Trung Quốc, nơi đăng bài. |
VI. NIÊN HIỆU, THỜI ĐẠI
|
STT |
Nguyên văn |
Phiên âm Hán Việt |
Giải nghĩa |
|
1 |
北魏 |
Bắc Ngụy |
(386–534) Triều đại do tộc Tiên Ti thành lập. |
|
2 |
东魏 |
Đông Ngụy |
(534–550) Triều đại kế tục Bắc Ngụy. |
|
3 |
西魏 |
Tây Ngụy |
(535–556) Triều đại kế tục Bắc Ngụy. |
|
4 |
北齐 |
Bắc Tề |
(550–577) Triều đại kế tục Đông Ngụy. |
|
5 |
北周 |
Bắc Chu |
(557–581) Triều đại kế tục Tây Ngụy. |
|
6 |
东晋 |
Đông Tấn |
(317–420) Triều đại ở miền Nam. |
|
7 |
刘宋 |
Lưu Tống |
(420–479) Triều đại Nam Triều. |
|
8 |
南齐 |
Nam Tề |
(479–502) Triều đại Nam Triều. |
|
9 |
南梁 |
Nam Lương |
(502–557) Triều đại Nam Triều. |
|
10 |
隋 |
Tùy |
(581–618) Triều đại thống nhất Trung Quốc. |
|
11 |
唐 |
Đường |
(618–907) Triều đại hùng mạnh. |
|
12 |
宋 |
Tống |
(960–1279) Triều đại Bắc Tống và Nam Tống. |
|
13 |
清 |
Thanh |
(1644–1912) Triều đại phong kiến cuối cùng. |
|
14 |
乾嘉 |
Càn Gia |
Thời kỳ Càn Long (1736–1795) và Gia Khánh (1796–1820). |
|
15 |
光绪 |
Quang Tự |
(1875–1908) Niên hiệu vua Thanh Đức Tông. |
|
16 |
雍正 |
Ung Chính |
(1723–1735) Niên hiệu vua Thanh Thế Tông. |
|
17 |
乾隆 |
Càn Long |
(1736–1795) Niên hiệu vua Thanh Cao Tông. |
VII. THUẬT NGỮ KHÁC
|
STT |
Nguyên văn |
Phiên âm Hán Việt |
Giải nghĩa |
|
1 |
十美 |
Thập Mỹ |
Mười tiêu chuẩn cái đẹp của Ngụy Bi do Khang Hữu Vi tổng kết. |
|
2 |
古拙朴厚 |
Cổ chuyết phác hậu |
Cổ xưa, thô mộc, chất phác, dày dặn. |
|
3 |
清峻秀逸 |
Thanh tuấn tú dật |
Trong sáng, cao tuấn, tú lệ, phiêu dật. |
|
4 |
方正茂密 |
Phương chính mậu mật |
Vuông vức, ngay ngắn, dày đặc. |
|
5 |
奇逸洒脱 |
Kỳ dật sái thoát |
Kỳ lạ, phiêu dật, phóng khoáng, thoát tục. |
|
6 |
雄浑博大 |
Hùng hồn bác đại |
Hùng vĩ, hồn hậu, rộng lớn. |
|
7 |
雄强刚健 |
Hùng cường cương kiện |
Hùng mạnh, cứng cỏi, khỏe khoắn. |
|
8 |
秀丽娴雅 |
Tú lệ nhàn nhã |
Tươi đẹp, thanh lịch, nhàn nhã. |
|
9 |
汉隶 |
Hán Lệ |
Lệ thư thời Hán. |
|
10 |
唐楷 |
Đường Khải |
Khải thư thời Đường. |
|
11 |
二王 |
Nhị Vương |
Vương Hy Chi và Vương Hiến Chi. |
|
12 |
鲜卑 |
Tiên Ti |
Tộc người du mục thành lập Bắc Ngụy. |
|
13 |
中原文化 |
Trung Nguyên văn hóa |
Văn hóa vùng Trung Nguyên. |
|
14 |
隐逸之士 |
Ẩn dật chi sĩ |
Người ẩn dật, không ra làm quan. |
|
15 |
书丹 |
Thư đan |
Viết chữ bằng mực đỏ lên đá trước khi khắc. |