CÚ ĐẬU (句讀) VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐOẠN CÚ (断句) TRONG VĂN NGÔN
I. Cú đậu và đoạn cú trong việc đọc văn ngôn
Cú đậu (句讀), còn viết là cú đậu (句逗), là những ký hiệu dùng để đánh dấu chỗ dừng lại và ngắt nghỉ khi viết chữ Hán cổ đại. Chữ Hán cổ đại ban đầu không thiết kế ký hiệu dấu câu trong văn bản viết; song khi đọc, muốn ngữ khí được lưu loát và ý nghĩa được truyền đạt chính xác, người ta vẫn phải chú ý đến cấu trúc “khởi, thừa, chuyển, hợp” (mở, nối, chuyển, kết) của câu văn. Vì lẽ ấy, người đọc sách thường dùng phương pháp khoanh vòng và chấm điểm (quyên điểm pháp) để tự thêm ký hiệu vào bài văn, và đó chính là nguồn gốc của cú đậu.
Thông lệ dùng dấu vòng tròn (。) để biểu thị sự kết thúc của một câu, tương đương dấu chấm (句號) trong hệ thống dấu câu hiện đại; còn sự chuyển đổi ngữ khí và chỗ ngắt nghỉ ở trong câu thì biểu thị bằng dấu đậu (ㆍ hoặc 、), tương đương dấu phẩy (逗號) và dấu ngắt ngắn (頓號) hiện đại. Việc thêm các dấu cú đậu như thế gọi là “đoạn cú” (断句, ngắt câu) hay “quyên điểm” (圈点, khoanh điểm); còn việc vừa khoanh điểm vừa thêm chú thích hoặc lời hạ chân (chú thích chân trang) thì gọi là “quyên chú” (圈注) hay “phê điểm” (批点). Quyên điểm chính xác không chỉ làm sáng tỏ nguyên ý của lời nói và bài văn, mà còn biểu lộ trình độ học vấn và sự tu dưỡng học thức căn bản của một người.
Việc đoạn cú trong văn ngôn cũng như việc tụng đọc các tác phẩm kinh điển bằng văn xuôi hiện đại, đều rất chú trọng ngữ cảm (cảm nhận ngôn ngữ). Mà ngữ cảm thì không phải một ngày một buổi có thể nuôi dưỡng nên. Bởi vậy, ngoài việc thường ngày chọn đọc nhiều văn bản văn ngôn trong và ngoài giáo trình, có độ khó vừa phải, còn cần nắm vững một số kỹ xảo ngắt câu, để đạt hiệu quả “làm ít công to” (sự bán công bội).
II. Nguyên tắc căn bản: đọc hiểu văn ý trước khi đoạn cú
Để học được cách ngắt câu và thêm dấu câu, cần thực hiện tốt ba điều. Một là phải đọc thông suốt toàn văn, nắm vững một cách tổng thể nội dung cơ bản và chủ đề cốt lõi của bài văn. Hai là phải cảm nhận kỹ lưỡng hàm nghĩa của từ ngữ cùng mối quan hệ giữa các từ ngữ với nhau, nắm chắc một số quy luật của việc ngắt câu và thêm dấu câu. Ba là phải kiên nhẫn và tỉ mỉ, thực hiện theo nguyên tắc “dễ trước khó sau”, từng bước thu hẹp phạm vi những chỗ phức tạp và khó khăn, cho đến khi ngắt mở được toàn văn và thêm được dấu câu chính xác.
Trong ba điều ấy, nguyên tắc căn bản nhất là đọc hiểu văn ý. Đọc thông suốt đoạn văn để lĩnh hội ý nghĩa cơ bản của nó là một tiền đề bắt buộc; nếu không đọc thông và không lĩnh hội được ý nghĩa thì không có cách nào ngắt câu. Sự chính xác của cú đậu và sự thông suốt của văn ý có quan hệ biểu lý, cái này là biểu hiện của cái kia, bổ trợ cho nhau: văn ý đã hiểu thông thì cú đậu tự nhiên chính xác; cú đậu chính xác thì văn ý tự nhiên thông suốt. Xin xem đoạn văn trích từ Học Ký (《学记》) dưới đây, trước hết là cách ngắt sai:
虽有嘉肴弗食/不知其旨也/虽有至道/弗学/不知其善也/是故学/然后知不足/教/然后知困/知不足然后能自反也/知困/然后能自强也/故曰/教学相长也
Cách đoạn cú chính xác của đoạn này phải là:
虽有嘉肴,弗食,不知其旨也;虽有至道,弗学,不知其善也。是故学然后知不足,教然后知困。知不足,然后能自反也;知困,然后能自强也。故曰:教学相长也。
Dịch nghĩa: Tuy có món ăn ngon, nếu không ăn thì không biết vị ngon của nó; tuy có đạo lý tối cao, nếu không học thì không biết cái hay của nó. Thế nên có học rồi sau mới biết mình còn thiếu sót, có dạy rồi sau mới biết mình còn khốn khó [chưa thông]. Biết mình thiếu sót, rồi sau mới có thể tự kiểm điểm lại mình; biết mình khốn khó, rồi sau mới có thể tự nỗ lực vươn lên. Cho nên nói: Dạy và học thúc đẩy lẫn nhau vậy. (Trích Học Ký)
Đoạn văn sau đây vốn chưa ngắt câu:
湖阳公主新寡帝与共论朝臣微观其意主曰宋公威容德器群臣莫及帝曰方且图之后弘被引见帝令主坐屏风后因谓弘曰谚言贵易交富易妻人情乎弘曰臣闻贫贱之交不可忘糟糠之妻不下堂帝顾谓主曰事不谐矣
Đoạn cú và thêm dấu câu chính xác như sau:
湖阳公主新寡,帝与共论朝臣,微观其意。主曰:‘宋公威容德器,群臣莫及。’帝曰:‘方且图之。’后弘被引见,帝令主坐屏风后,因谓弘曰:‘谚言:贵易交,富易妻,人情乎?’弘曰:‘臣闻贫贱之交不可忘,糟糠之妻不下堂。’帝顾谓主曰:‘事不谐矣。’
Dịch nghĩa: Công chúa Hồ Dương mới góa chồng, Hoàng đế cùng bà bàn luận về các đại thần trong triều để ngầm quan sát ý tứ của bà. Công chúa nói: “Uy nghi, dung mạo, đức độ và tài năng của Tống công thì quần thần không ai bằng”. Vua nói: “Ta sẽ bàn tính việc này”. Sau đó Tống Hoằng được vào yết kiến, Vua bảo công chúa ngồi sau tấm bình phong, rồi nhân đó nói với Tống Hoằng rằng: “Tục ngữ có câu: Sang đổi bạn, giàu đổi vợ, đó là thường tình của con người chăng?”. Hoằng đáp: “Thần nghe nói: Bạn thuở nghèo hèn chớ nên quên, người vợ tấm cám chẳng để xuống thềm”. Vua quay lại bảo công chúa rằng: “Việc không thành rồi”.
Trên cơ sở đã đọc thông và lĩnh hội ý nghĩa, nên ngắt trước những chỗ có thể ngắt được để thu hẹp dần phạm vi, rồi tập trung tinh lực phân tích mối liên hệ giữa những câu khó ngắt với ngữ cảnh thượng hạ (trên dưới). Khi ngắt câu còn phải chú ý đến thể tài (thể loại văn học) và phong cách ngôn ngữ của bài văn, cũng như ý của câu đã hoàn chỉnh hay chưa. Đến khi chèn dấu câu, phải tuân thủ một nguyên tắc: sau khi đã đọc thông suốt và lĩnh hội ý nghĩa, phải “đoạn trước điểm sau” (断后点), nghĩa là trước tiên ngắt ra thành từng đoạn ngắn nhỏ, rồi mới cân nhắc nên dùng ký hiệu dấu câu nào; còn khi thêm ký hiệu, có thể thực hiện theo phương pháp và yêu cầu thêm dấu câu của tiếng Hán hiện đại. Sau cùng, hoàn thành việc ngắt câu rồi, phải đọc lại thông suốt toàn văn một lượt, dùng phân tích ngữ pháp hoặc ngữ cảm mà kiểm tra xem các câu sau khi ngắt có giải thích thông suốt và hợp logic hay không; nếu nội dung không hợp tình lý, rất có thể đã chấm sai dấu (xem ví dụ ở mục IX).
III. Dựa vào từ ngữ và hư từ để xác định điểm ngắt
Trong văn ngôn (văn xuôi cổ), từ tính (từ loại) của từ ngữ và quy luật kết hợp từ ngữ về cơ bản giữa cổ và kim là giống nhau; do đó có thể dựa vào từ tính của từ ngữ và quy luật kết hợp từ ngữ, như quan hệ ngữ pháp, để ngắt câu. Những hư từ và từ ngữ thường dùng là dấu hiệu ngắt câu được trình bày dưới đây theo vị trí của chúng trong câu.
Phát ngữ từ đầu câu. Các phát ngữ từ (từ mở đầu) thường dùng trong văn ngôn gồm “盖” (Cái), “夫” (Phù), “且夫” (Thả phù), “今夫” (Kim phù), và còn có “岂(岂独)、其、唯、盍、且、若夫”... Tác dụng chủ yếu của chúng là dẫn dắt và mở đầu cho câu văn, cho nên khi ngắt câu cần ngắt ở ngay trước các từ này. Xin xem bốn ví dụ:
夫夷以近,则游者众;险以远,则至者少。
(Ôi chốn bằng phẳng mà gần thì người đến chơi đông; nơi hiểm trở mà xa thì người tới được lại ít).
且庸人尚羞之。
(Huống chi kẻ tầm thường còn biết lấy làm xấu hổ vì điều đó).
且夫天下非小弱也。
(Và lại, thiên hạ chẳng phải là nhỏ yếu đi vậy).
盖余所至,比好游者尚不能十一,然视其左右,来而记之者已少。
(Bởi vì nơi tôi đặt chân đến, so với những người thích du ngoạn còn chưa bằng một phần mười, thế nhưng nhìn những chữ khắc xung quanh, người đến đây ghi lại danh tính đã ít rồi).
Từ ngữ chỉ thời gian đầu câu. Các từ ngữ biểu thị thời gian thường gặp gồm “是时” (Thị thời – lúc bấy giờ), “后” (Hậu – sau này), “昔者” (Tích giả – ngày xưa), “日者” (Nhật giả – hôm trước), “既已” (Ký dĩ – đã rồi), “既而” (Ký nhi – lát sau), “向者” (Hướng giả – trước đây), “向之” (trước đây), “俄而” (Nga nhi – bỗng chốc), “俄” (chốc lát), “俄顷” (chốc lát), “顷之” (lát sau), “未几” (chẳng bao lâu), “已而” (sau đó), “斯须” (giây lát), “有间” (một lúc sau)... Dựa vào các từ ngữ này mà ngắt câu, thì phía trước chúng có thể ngắt.
Hư từ phức hợp đầu câu. Hư từ phức hợp (phức âm hư từ) khi dùng ở đầu câu có một vài đặc điểm. Thứ nhất, những từ này dẫn dắt không nhất định phải là một câu hoàn chỉnh, thông thường chúng chỉ dẫn dắt một phân câu (vế câu). Thứ hai, phía trước các hư từ phức hợp phần lớn không cần dùng chủ ngữ, chủ ngữ hầu hết đã được lược bớt dựa theo câu trước (thừa tiền lược bớt). Thứ ba, cũng có trường hợp không ngắt ở trước các từ này, đặc biệt là trong các câu ngắn. Các hư từ phức hợp thường dùng ở đầu câu gồm “其惟” (Kỳ duy), “岂惟” (Khởi duy), “岂足” (Khởi túc), “然且” (Nhiên thả), “然则” (Nhiên tắc), “故夫” (Cố phù), “大抵” (Đại để), “得毋” (Đắc vô), “何以” (Hà dĩ)... Khi ngắt câu, dựa vào văn ý, thông thường phải ngắt ở ngay phía trước các từ này.
Khiêm từ đầu câu. Khiêm từ là những từ ngữ nhún nhường, xưng hô khiêm tốn, thường gặp ở đầu câu trong văn ngôn, gồm “僕” (Bộc), “窃” (Thiết), “寡人” (Quả nhân), “下官” (Hạ quan), “区区” (Khu khu), “孤” (Cô), “臣” (Thần), “愚” (Ngu), “妄” (Vọng)... Khi ngắt câu, kết hợp với vị trí của các động từ liên quan, nếu xác định được chúng nằm ở đầu câu thì phải ngắt ở trước các từ này.
Chữ “故”, “然” và các liên từ. Chữ “故” (Cố – cho nên) thường dẫn dắt một câu suy luận hoặc câu kết luận; chữ “然” (Nhiên – tuy nhiên) và “然而” (Nhiên nhi – tuy nhiên) dẫn dắt câu chuyển ý, tức câu biểu thị sự quay ngoắt, tương phản. Dựa vào các đặc trưng ấy mà ngắt câu. Rộng hơn, phía trước các liên từ thường đặt ở đầu câu phần lớn có thể ngắt câu, như “故、故而、是故、以故、(然)、因、(而)、(于是)、苟、纵、向使、然而、无论、至若、是以、继而、纵使、然则、虽然、至于”... Xin xem các ví dụ:
于是余有叹焉。
(Thế là tôi có điều cảm thán ở đây).
而世之奇伟、瑰怪、非常之观,常在于险远,而人之所罕至焉,故非有志者不能至也。
(Mà cái cảnh tượng kỳ vĩ, kỳ quái, phi thường trên đời thường nằm ở nơi hiểm trở xa xôi, là nơi con người hiếm khi đặt chân đến, cho nên nếu không phải người có chí thì không thể đến được vậy).
是故圣益圣,愚益愚。
(Thế cho nên bậc thánh lại càng thánh minh, kẻ ngu lại càng ngu muội).
以故其后名之曰‘褒禅’。
(Vì cớ ấy mà sau này nơi đó có tên gọi là “Bao Thiền”).
然是说也,余尤疑之。
(Thế nhưng học thuyết này, tôi lại càng nghi ngờ nó).
因得观所谓石钟者。
(Nhân đó mà được quan sát thứ gọi là chuông đá).
大石侧立千尺,如猛兽奇鬼,森然欲搏人;而山上栖鹘,闻人声亦惊起,磔磔云霄间。
(Tảng đá lớn dựng đứng ngàn thước, như mãnh thú quỷ lạ, rợn người như muốn vồ lấy người; mà chim cắt đậu trên núi nghe tiếng người cũng giật mình bay lên, kêu quang quác giữa tầng mây).
Phương vị từ. Các phương vị từ (từ chỉ phương hướng, vị trí) trong văn ngôn thường được dùng liền nhau hoặc dùng đối nhau; khi chúng dẫn dắt câu thì có thể làm dấu hiệu trợ giúp cho việc ngắt câu.
Ngữ khí từ cuối câu. Các ngữ khí từ thường gặp ở cuối câu gồm “与(欤)” (Dữ/Dư), “邪(耶)” (Tà/Gia), “乎” (Hô), “哉” (Tai), “也” (Dã), “矣” (Mĩ), “焉” (Yên), “耳” (Nhĩ), cùng “兮” và “而已”... Phía sau các từ này phải ngắt câu; trong số đó, ba chữ “乎”, “者”, “也” được đặt trong ngoặc ở nguồn, và có những trường hợp đặc biệt không thể máy móc coi là dấu hiệu kết thúc câu. Chữ “者” (Giả), khi mang nghĩa “...đích nhân” (người mà...) hoặc biểu thị sự ngắt nghỉ tạm thời giữa câu, hoặc khi liên kết thành cụm “者也” (giả dã), thì phía sau nó không thể ngắt câu. Chữ “也” (Dã) cũng thường dùng ở giữa câu để biểu thị ngữ khí thư thái, hoãn nhịp; khi tụng đọc không được dừng hẳn, nên phía sau nó không được ngắt câu. Chữ “乎” (Hô) đôi khi dùng ở giữa câu và đồng nghĩa với chữ “于” (với/ở), đóng vai trò làm giới từ, như trong “生乎吾前” (Sinh hô ngô tiền – sinh ra trước tôi); phía sau nó không thể ngắt câu. Đoạn văn sau, chưa ngắt câu, thuộc loại này:
客有为齐王画者齐王问曰画孰最难者曰犬马最难孰最易者曰鬼魅最易夫犬马人所知也旦暮罄于前不可类之故难鬼魅无形者不罄于前故易之也(《韩非子•外储说左上》)
Đáp án đoạn cú chính xác:
客有为齐王画者,齐王问曰:‘画孰最难者?’曰:‘犬马最难。’‘孰最易者?’曰:‘鬼魅最易。’‘夫犬马,人所知也,旦暮罄于前,不可类之,故难;鬼魅无形者,不罄于前,故易之也。’
Dịch nghĩa: Có người khách vẽ tranh cho Tề vương, Tề vương hỏi rằng: “Vẽ cái gì khó nhất?”. Khách đáp: “Vẽ chó, ngựa là khó nhất”. Vua lại hỏi: “Cái gì dễ nhất?”. Khách đáp: “Vẽ ma quỷ là dễ nhất”. [Khách giải thích]: “Chó và ngựa là thứ con người đều biết, từ sáng đến tối đều hiển hiện rõ ràng ngay trước mắt, không thể vẽ sai lệch tương tự được, cho nên khó. Còn ma quỷ là thứ vô hình, không hiển hiện trước mắt, cho nên dễ vẽ vậy”.
Thán từ, hô ngữ và số từ chỉ thứ tự. Các thán từ thường gặp gồm “嗟夫” (Ta phù – Than ôi), “嗟乎”, “呜呼” (Ô hô – Ôi chao), “呜呼哀哉” (Ô hô ai tai – Thương hại thay)... Chúng là những thành phần tương đối độc lập, thường đặt ở đầu câu, nên khi ngắt câu phải ngắt ở cả phía trước và phía sau. Từ hô gọi (hô ngữ) cũng là thành phần độc lập của câu, vì vậy cũng cần ngắt ở cả trước và sau nó. Còn số từ chỉ thứ tự (tự số từ) thì đôi khi biểu thị rõ ràng các tầng thứ, thứ bậc của câu văn, dựa vào đó có thể ngắt mở câu văn.
Các chữ thường dùng giữa câu. Những chữ như “以、于、为、则、而” thường được dùng ở giữa câu, trước và sau chúng nhìn chung không ngắt câu; ngoại lệ là chữ “而” khi biểu thị quan hệ chuyển ngoặt nghịch lý, đồng thời vế phía sau là một câu tương đối dài và hoàn chỉnh, thì phải ngắt ở ngay trước chữ “而”.
Đoạn văn sau, trích từ 《Hàn phi tử 韩非子》, vốn chưa ngắt câu:
曾子之妻之市其子随之而泣其母曰女还顾反为女杀彘妻适市来曾子欲捕彘杀之妻止之曰特与婴儿戏耳曾子曰婴儿非与戏也婴儿非有知也待父母而学者也听父母之教今子欺之是教子欺也母欺子子而不信其母非以成教也遂烹彘也
Đoạn cú chính xác (những chỗ ngắt trong lời Tăng Tử được đánh dấu bằng ∕):
曾子之妻之市,其子随之而泣。其母曰:‘女还,顾反,为女杀彘。’妻适市来,曾子欲捕彘杀之。妻止之曰:‘特与婴儿戏耳。’曾子曰:‘婴儿非与戏也∕婴儿非有知也∕待父母而学者也∕听父母之教∕今子欺之∕是教子欺也∕母欺子∕子而不信其母∕非以成教也。’遂烹彘也。
Bản dịch nghĩa: Vợ của Tăng Tử đi ra chợ, đứa con khóc lóc đòi đi theo. Người mẹ bảo: “Con về đi, lát mẹ quay về sẽ giết lợn cho con ăn”. Khi người vợ từ chợ về, Tăng Tử định đi bắt lợn để giết. Người vợ ngăn lại nói: “Tôi chỉ là nói đùa với trẻ con mà thôi”. Tăng Tử nói: “Trẻ con là không thể nói đùa với nó được. Đứa trẻ chưa có tri thức, nó đang chờ để học hỏi từ cha mẹ, lắng nghe sự dạy dỗ của cha mẹ. Nay nàng lừa dối nó, tức là dạy đứa trẻ gạt người vậy. Mẹ đi lừa dối con thì con sẽ không tin tưởng mẹ của nó nữa, đó không phải là phương pháp để thành tựu việc giáo dục”. Thế rồi ông liền đi nấu thịt lợn. (Trích Hàn Phi Tử)
IV. Dựa vào lời thoại và các từ “曰、云、言”
Trong văn ngôn, các lời đối thoại và lời dẫn trích thường lấy những từ như “语” (Ngữ), “曰” (Viết – rằng), “云” (Vân – rằng), “言” (Ngôn – nói), “道” (Đạo – nói), “白” (Bạch – thưa), “对” (Đối – đáp), “谓” (Vị – bảo) làm dấu hiệu, và có thể nắm lấy những từ mang tính dấu hiệu đối thoại ấy để ngắt câu. Riêng ba chữ “曰”, “云”, “言” thì thông thường gặp chúng đều phải ngắt nghỉ; phần lớn dùng dấu hai chấm để mở ra, và nội dung phía sau chữ “曰” thường phải thêm dấu ngoặc kép. Nếu là cuộc đối thoại giữa hai người, thông thường ở lượt hỏi đáp đầu tiên sẽ xuất hiện tên người, về sau chỉ dùng chữ “曰” mà lược bỏ chủ ngữ. Xin xem lời Khổng Tử dưới đây (các chỗ ngắt được đánh dấu bằng ∕):
孔子曰:∕益者三乐,∕损者三乐。∕乐节礼乐,∕乐道人之善,∕乐多贤友,∕益矣。∕乐骄乐,∕乐佚游,∕乐宴乐,∕损矣。
(Khổng Tử nói: Có ba thứ vui có ích, có ba thứ vui có hại. Vui vì biết tiết chế bằng lễ nhạc, vui vì hay ca ngợi cái tốt của người khác, vui vì có nhiều bạn hiền, ấy là có ích. Vui vì kiêu ngạo, vui vì chơi bời lêu lổng, vui vì ăn uống yến tiệc hoang phí, ấy là có hại vậy). (Trích Luận Ngữ • Quyển Tám)
Phía sau chữ “曰” thì chắc chắn phải ngắt; vấn đề là phía trước chữ “曰” phải ngắt như thế nào, ngắt ở chỗ nào, bởi điểm ngắt ấy quyết định lời phía sau là lời của ai. Đoạn văn dưới đây, trích từ Thư Hà Dễ Vu (《书何易于》) của Tôn Tiều đời Đường, có phần chưa ngắt là một câu hỏi và một câu đáp:
何易于尝为益昌令,县距刺史治所四十里,城嘉陵江南。刺史崔普尝乘春自上游多从宾客歌酒泛舟东下,直出益昌旁,至则索民挽舟,易于即腰笏引舟上下。刺史惊问易于曰方春百姓不耕即蚕隙不可夺易于为属令当其无事可以充役。刺史与宾客跳出舟,偕骑还去。
Nếu không nhìn vế dưới mà chỉ nhìn trước chữ “曰”, tức cụm “刺史惊问易于曰”, thì có hai cách ngắt. Cách một là “刺史惊问,易于曰:……” (Thứ sử kinh ngạc hỏi, Hà Dễ Vu đáp: ...); cách ngắt này thể hiện Thứ sử hỏi và Hà Dễ Vu trả lời, tức lời phía sau chữ “曰” là do Hà Dễ Vu nói. Cách hai là không ngắt, “刺史惊问易于曰:……” (Thứ sử kinh ngạc hỏi Hà Dễ Vu rằng: ...); cách ngắt này biến lời phía sau thành câu hỏi của Thứ sử. Dựa vào ngữ cảnh đoạn sau, biết lời này là do Hà Dễ Vu nói để can gián, cho nên cách ngắt thứ nhất là chính xác.
Đoạn dưới đây, trích từ Chiến quốc sách • Tần sách (《战国策•秦策》), cũng có chữ “曰” cần xét như vậy:
医扁鹊见秦武王,武王示之病,扁鹊请除左右曰君之病在耳之前目之下除之未必已也将使耳不聪目不明。君以告扁鹊,扁鹊怒而投其石,曰君与知之者谋之而与不知者败之使此知秦国之政也,则君一举而亡国矣。
Phần trước chữ “曰” trong đoạn chưa ngắt cũng có hai cách ngắt. Cách một là “扁鹊请除,左右曰:……” (Biển Thước xin phòng bệnh, kẻ tả hữu bèn nói: ...), chứng tỏ lời phía sau là do kẻ hầu cận nói. Cách hai là không ngắt, “扁鹊请除左右曰……” (Biển Thước xin đuổi quân hầu cận tả hữu ra ngoài rồi nói rằng: ...), chứng tỏ lời phía sau là do Biển Thước nói. Dựa vào diễn biến câu chuyện phía sau, có thể thấy cách ngắt thứ hai mới chính xác: Biển Thước cảnh báo nhà vua, sau đó tả hữu gièm pha, vua nghe theo tả hữu khiến Biển Thước tức giận vứt thạch châm đi.
Cuối cùng là một đoạn bài tập, chưa ngắt câu:
太宗曾罢朝怒曰会杀此田舍汉文德后问谁触忤陛下帝曰岂过魏征每廷争辱我使我常不自得后退而具朝服立于庭帝惊曰皇后何为若是对曰妾闻主圣臣忠今陛下圣明故魏征得直言妾幸备数后宫安敢不贺
Đoạn cú, thêm dấu câu chính xác và bản dịch nghĩa như sau:
太宗曾罢朝,怒曰:‘会杀此田舍汉!’文德后问:‘谁触忤陛下?’帝曰:‘岂过魏征,每廷争辱我,使我常不自得。’后退而具朝服立于庭。帝惊曰:‘皇后何为若是?’对曰:‘妾闻主圣臣忠,今陛下圣明,故魏征得直言。妾幸备数后宫,安敢不贺?’
(Đường Thái Tông có một lần bãi triều, tức giận nói: “Thế nào ta cũng phải giết gã nhà quê này!”. Văn Đức Hoàng hậu hỏi: “Ai đã mạo phạm bệ hạ?”. Vua nói: “Còn ai ngoài Ngụy Trưng nữa! Lần nào ở triều đình cũng tranh biện làm nhục ta, khiến ta luôn không thoải mái”. Hoàng hậu nghe xong liền lui ra, thay triều phục trang nghiêm rồi đứng ở giữa sân. Đường Thái Tông kinh ngạc hỏi: “Hoàng hậu làm gì mà như thế này?”. Hoàng hậu đáp: “Thiếp nghe nói vua có thánh minh thì thần tử mới trung trực. Nay bệ hạ thánh minh nên Ngụy Trưng mới dám thẳng thắn can gián. Thiếp may mắn được đứng vào hàng hậu cung của vị vua thánh minh, sao lại không dám chúc mừng bệ hạ cơ chứ?”). (Trích Tùy Đường Gia Thoại của Lưu Tốc đời Đường)
V. Dựa vào cấu trúc câu và ngữ pháp
Người xưa không biết đến cấu trúc ngữ pháp hiện đại, việc ngắt câu của họ hoàn toàn dựa vào ngữ cảm mơ hồ; ngày nay có thể dùng tri thức ngữ pháp hiện đại để phân tích cú pháp câu văn ngôn mà xác định điểm ngắt một cách khoa học. Trật tự từ ngữ trong văn ngôn và văn bạch thoại hiện đại về cơ bản giống nhau: chủ ngữ ở trước, vị ngữ và tân ngữ ở sau; từ bổ nghĩa nhìn chung đứng trước từ trung tâm. Trong tiếng Hán cổ, câu đa số lấy động từ hoặc tính từ làm trung tâm, nên trước hết hãy tìm ra vị ngữ là động từ hoặc tính từ, thường thì ý nghĩa của câu sẽ tự lộ ra.
Trước hết xin xét câu “少时,一狼径去,其一犬坐于前。” Nếu ngắt nhầm thành “少时,一狼径去,其一犬,坐于前。” thì hoàn toàn sai, vì chữ “犬” (chó) không phải là chủ ngữ của vế sau, mà là trạng ngữ bổ nghĩa cho động từ “坐” (ngồi); nghĩa là con sói đó ngồi thuỗn ra giống như tư thế con chó ngồi ở phía trước. Khi phân chia cấu trúc câu còn phải chú ý các cấu trúc đảo ngữ thường gặp, như đảo ngữ chủ – vị, tân ngữ đảo lên trước, định ngữ đảo ra sau, đoản ngữ giới – tân đảo ra sau vị ngữ...
Việc tìm động từ để phân tách câu có thể thấy ở đề thi Bắc Kinh năm 2004. Trong câu “马无故亡而入胡∕人皆吊之” có các động từ “亡” (mất, chạy trốn), “入” (vào), “吊” (chia buồn), vì vậy có thể tách ra thành hai câu rõ rệt. Trong câu “其马将胡骏马而归∕人皆贺之” có các động từ “将” (dẫn theo), “归” (về), “贺” (chúc mừng), cũng có thể chia làm hai câu.
Danh từ và đại từ cũng là chỗ dựa để ngắt câu: tìm ra các danh từ hoặc đại từ xuất hiện lặp đi lặp lại trong văn bản thì đại thể đã ngắt được cú đậu. Đại từ nhân xưng thường gặp có “吾、余、予” (tôi), “尔、汝(女)、公、卿、君、若” (bạn, ngài), “彼、此、其、之” (anh ta, họ, nó). Đại từ nghi vấn, hỏi người có “谁”, “孰”, “何”; hỏi sự vật có “何”, “奚”, “胡”, “曷”, “恶”, “安”, “焉”... Đại từ chỉ định có “此”, “是”, “斯”, “兹”, “夫”; ngoài ra các chữ “之”, “其”, “彼”, bên cạnh chức năng đại từ nhân xưng, còn thường làm đại từ chỉ định. Trong văn ngôn, khi nhân danh xuất hiện lần đầu thì dùng toàn xưng (đầy đủ họ tên), các lần sau xuất hiện chỉ gọi tên chứ không nhắc lại họ nữa.
Có những tổ hợp hư từ và đoản ngữ cố định không nên chia cắt; giữ nguyên các tổ hợp ấy không bị phân tách sẽ giảm thiểu sai sót khi ngắt câu. Đó là “有所”, “无所”, “有以”, “无以”, “以为”, “何所”, “孰若”, “至于”, “足以”, “得无”, “无乃”, “何以”, “于是”, “然则”... Danh từ riêng, như chức quan, địa danh, nhân danh, là các thành phần độc lập nên giữa chúng không được cắt đôi. Đặc biệt có một số tên người cổ đại rất dễ gây nhầm lẫn do thói quen ngôn ngữ xưa nay khác biệt, chẳng hạn Hà Dễ Vu (何易于), Trung Kỳ (中期), Kỵ Kiếp (骑劫).
VI. Dựa vào các câu thức cố định
Văn ngôn có nhiều cấu trúc cố định, tức các câu thức, mà người đọc cần nắm vững khi ngắt câu; chẳng hạn “……者……也”, “非……则……”, “如……何”... Các cấu trúc ấy được chia thành sáu loại.
Loại biểu thị cảm thán gồm “何其……也” (sao mà… thế!, đại loại… vậy!); “一/一何……” (sao mà… thế!, biết bao…); “(其)……之谓也/乎” (chính là nói về… vậy!, có lẽ là nói về… chăng!); “直/特……耳” (chẳng qua là… mà thôi!); “惟……耳” (chỉ là… mà thôi!); “亦……哉” (cũng thật là… thay!). Loại biểu thị sự ước đoán, suy trắc gồm “得无……乎/耶/邪” (phải chăng, có lẽ nào, chẳng nhẽ… ru?); “无乃……乎(耶)” (e rằng… chăng?, có hàm ý phản vấn); “……庶几……欤” (…có lẽ… chăng?); “其……欤?” (chẳng phải… sao?, có hàm ý phản vấn).
Loại biểu thị sự nghi vấn gồm “可得……欤” (có thể… chăng?); “孰与……乎” (ai bằng…?); “如……何” (làm sao với…?); “奈……何” (làm thế nào với…?); “若……何” (như thế nào với…?); “何……焉为” (làm… làm gì?); “何也(何……也)” (vì sao vậy?); “何哉(何……哉)” (sao thế nhỉ?); “何以……?” (dựa vào đâu…?); “何所……?” (nơi nào, cái gì…?); “何为……?” (làm gì…?). Loại biểu thị sự phản vấn, tức hỏi ngược, gồm “何……之有” (ví dụ: Tống hà tội chi hữu? – Nước Tống có tội gì đâu?; đây là cấu trúc đảo ngữ của “hữu hà…”); “何……为” (ví dụ: Hà từ vi? – Cáo từ làm gì?); “不亦……乎” (ví dụ: Bất diệc duyệt hồ? – Chẳng phải vui lắm sao?); “无乃……乎” (chẳng phải không được sao?); “得无……乎” (chẳng nhẽ lại khác biệt sao?); “其……乎/也/耶” (há lại… sao?); “安……哉” (sao lại… thế!); “况……乎” (huống chi…!). Như vậy “无乃……乎” và “得无……乎” xuất hiện cả ở loại ước đoán lẫn loại phản vấn, với những ý nghĩa như vừa nêu.
Loại biểu thị sự lựa chọn gồm “与其……孰若(无宁)……” (thay vì… sao bằng, không bằng…); “不……,则……”, “不……即……” (không phải thế này thì là thế kia); “……,抑……” (là… hay là…, …hoặc là…); “非……则……”, “非……而……” (không phải… thì là…, không phải… nhưng lại…). Loại cấu trúc bị động gồm “为……所……” (bị… làm cho…); “受……于……” (chịu… từ…); “见……于……” (bị… bởi…).
VII. Dựa vào thủ pháp tu từ, đối ngẫu và hình thức câu
Người xưa viết văn rất mực giảng cứu về kỹ xảo tu từ. Có người chú trọng đến sự chỉnh tề của câu thức, sự hài hòa của âm luật; có người lại chú trọng đến việc vận dụng các biện pháp tu từ như đối trượng (đối nhau), đối xứng, bài tỷ (điệp cấu trúc), trùng điệp (lặp từ)... Khi đoạn cú và thêm dấu câu cho văn ngôn, nếu chú ý đầy đủ đến các hiện tượng tu từ ấy thì sẽ mang lại rất nhiều sự thuận tiện. Có thể nắm lấy hai đặc điểm lớn của văn ngôn: một là sự giảng cứu tu từ, như đính chân, bài tỷ, đối ngẫu, đối xứng, lặp lại...; hai là câu thức chỉnh tề, với nhiều câu “tứ lục” (bốn chữ, sáu chữ cân nhau).
Về biện pháp ẩn dụ (tỷ dụ đoạn cú), từ ngữ ẩn dụ thường là dấu hiệu quan trọng của câu ẩn dụ; khi ngắt câu, trước tiên hãy phán đoán ra từ ngữ ẩn dụ, sau đó tìm ra các câu có liên quan ở phía trước và phía sau nó. Về biện pháp đối lập (đối tỷ đoạn cú), lập luận đối lập thường xuất hiện nhiều trong văn luận thuyết thời cổ đại, nên có thể dựa vào điểm bắt đầu và kết thúc của câu đối lập để ngắt câu.
Biện pháp đính chân (đính chân đoạn cú), còn gọi là “liên châu” (chuỗi ngọc liền nhau), là biện pháp tu từ lấy từ ngữ ở cuối câu trên làm từ ngữ mở đầu cho câu dưới, các câu cứ thế nối tiếp nhau từ đầu đến cuối như ve sầu lột xác. Dựa vào đặc điểm này, khi ngắt câu bắt buộc phải ngắt ở giữa các từ ngữ trùng nhau được nối tiếp đó. Xin xem đoạn sau, trích từ Liêm Pha Lân Tương Như liệt truyện, trong đó các chữ lặp lại liên tiếp ở cuối câu trước và đầu câu sau làm điểm ngắt:
秦王坐章台见相如∕相如奉璧奏秦王∕秦王大喜,传以示美人及左右∕左右皆呼万岁。
(Tần vương ngồi ở Chương Đài gặp Tương Như / Tương Như dâng ngọc bích trình Tần vương / Tần vương mừng rỡ, truyền cho mỹ nhân cùng tả hữu xem / Tả hữu đều hô vạn tuế).
Biện pháp lặp lại (trùng phục đoạn cú) trong văn ngôn có vài trường hợp: lặp lại từ ngữ, lặp lại đoản ngữ (cụm từ), lặp lại câu văn, cũng như lặp lại câu thức; đó là một trong những dấu hiệu để ngắt câu. Khi ngắt câu, trước hết hãy tìm ra bộ phận được lặp lại, sau đó tìm các từ ngữ hoặc câu văn có liên quan ở trước và sau nó để ngắt ra thành câu hoàn chỉnh. Về biện pháp bài tỷ (bài tỷ đoạn cú), câu bài tỷ, tức câu song song, có một vài đặc điểm: cấu trúc câu giống nhau; số lượng chữ trong mỗi câu đại thể bằng nhau; thường sử dụng một số hư tự giống nhau hoặc các từ ngữ lặp lại. Nương theo các đặc điểm ấy mà ngắt câu. Về biện pháp đối ngẫu (đối ngẫu đoạn cú), câu đối ngẫu được sử dụng rất nhiều trong văn ngôn, hơn nữa cách dùng lại linh hoạt: thường lặp lại sử dụng vài hư tự, nội dung đối nhau, thậm chí từ ngữ cũng đối nhau. Khi ngắt câu, có thể đánh dấu các câu đối ngẫu ra trước, rồi mới đi tìm điểm bắt đầu và kết thúc của các câu khác. Đoạn văn sau minh họa các hiện tượng ấy:
秦孝公据崤函之固,拥雍州之地,君臣固守以窥周室,有席卷天下、包举宇内、囊括四海之意,并吞八荒之心。当是时也,商君佐之,内立法度,务耕织,修守战之具;外连横而斗诸侯。于是秦人拱手而取西河之外。
Trong đoạn văn này, cụm “据崤函之固 / 拥雍州之地” là câu đối ngẫu; cụm “席卷天下 / 包举宇内 / 囊括四海 / 并吞八荒” là phép bài tỷ; hai chữ “内” (trong) và “外” (ngoài) là đối chiếu. Dựa vào đặc điểm ngôn ngữ ấy thì việc ngắt câu dễ dàng hơn nhiều.
Về đối xứng, xin xem lời Trung Sơn quân, khi bùi ngùi ngửa mặt than rằng:
与不期众少∕其于当厄∕怨不期深浅∕其于伤心∕吾以一杯羊羹亡国∕以一壺餐得士二人。
(Ban ơn không kể nhiều ít, cốt ở lúc người ta gặp khốn cùng; oán hận không kể sâu nông, cốt ở lúc người ta đau lòng. Ta vì một chén canh thịt dê mà mất nước, vì một bầu cơm mà được hai người nghĩa sĩ). (Trích Chiến quốc sách • Trung Sơn sách)
Trong cổ văn, hai từ giống nhau dùng liền sát nhau, nếu không thuộc hình thức lặp lại của tính từ hay danh từ (từ láy), thì nhìn chung chúng thuộc về hai câu khác nhau, và thông thường ở giữa phải ngắt ra. Thí dụ trong bài Ngu Công dời núi:
汝心之固,固不可彻,曾不若孀妻弱子。虽我之死,有子存焉;子又生孙,孙又生子,子又有子,子又有孙;子子孙孙,无穷匮也。
(Lòng nhà ngươi cố chấp, cố chấp đến mức không thể thông suốt, chẳng bằng cả người góa phụ và đứa trẻ con. Dẫu ta có chết đi thì có con ta còn đó; con lại sinh ra cháu, cháu lại sinh ra con, con lại có con, con lại có cháu; con con cháu cháu, không bao giờ cùng tận vậy).
Quan hệ tổng – phân cũng giúp ích cho việc ngắt câu, vì cổ văn rất chuộng lối viết “tổng thuyết phân thừa” (nói khái quát trước, triển khai chi tiết sau) hoặc “phân thuyết tổng thừa” (liệt kê chi tiết trước, tóm gọn lại sau). Lối tổng thuyết phân thừa có thể thấy trong thiên Mưu Công:
故知胜有五:知可以战与不战者胜,识众寡之用者胜,上下同欲者胜,以虞待不虞者胜,将能而君不御者胜。
(Cho nên biết trước chiến thắng có năm điều: Biết khi nào có thể đánh và khi nào không thể đánh thì thắng; biết cách dùng quân đông và quân ít thì thắng; trên dưới cùng một chí hướng thì thắng; lấy sự chuẩn bị kỹ càng đợi sự không chuẩn bị của địch thì thắng; tướng có tài năng mà vua không can nhiễu thì thắng).
Lối phân thuyết tổng thừa thì như đoạn sau:
老而无妻曰鳏,老而无夫曰寡,老而无子曰独,幼而无父曰孤。此四者,天下之穷民而无告者。
(Già mà không vợ gọi là góa trống [quạnh], già mà không chồng gọi là góa mái [quả], già mà không con gọi là cô độc [độc], trẻ nhỏ không cha gọi là mồ côi [cô]. Bốn hạng người này là những dân chúng cùng khổ nhất trong thiên hạ, không biết kêu van vào đâu).
VIII. Những điều kiện rộng hơn: thể văn, chương pháp, âm vận và văn hóa
Ngoài từ ngữ, cấu trúc câu và tu từ, việc ngắt câu còn dựa vào những điều kiện rộng hơn. Trước hết là đặc điểm thể văn: các đặc điểm thể văn khác nhau của văn ngôn có thể giúp ích cho việc ngắt câu, chẳng hạn trong văn nghị luận thì có luận điểm… Kế đến là đặc điểm chương pháp, tức kết cấu bài văn. Văn ngôn có những đặc điểm chương pháp nhất định, như “khai hợp hữu tự” (mở kết có thứ tự), tức tổng thuật trước phân thuật sau hoặc phân thuật trước tổng thuật sau (xem các ví dụ về quan hệ tổng – phân ở mục VII); như “tạp trung kiến chỉnh” (trong cái hỗn tạp thấy cái chỉnh tề), tức trong nhiều lời tự sự có chứa các câu mang tính tổng quát; mạch văn trật tự không rối loạn; bố cục nhịp nhàng đan xen. Dựa vào những đặc điểm ấy của chương pháp, có thể làm rõ mạch lạc của bài văn để trợ giúp cho việc ngắt câu.
Tri thức về âm vận cổ đại cũng có vai trò. Thư tịch cổ thời thượng cổ không chỉ có thơ ca mới gieo vần, mà văn xuôi (tản văn) cũng có gieo vần; mục đích của việc dùng vần là để tiện cho việc ghi nhớ và tụng đọc. Hiểu biết về âm vận thì có thể ngắt câu ngay tại chỗ gieo vần (vần cước), mang lại nhiều thuận lợi cho việc chấm câu sách cổ; ngược lại, nếu không hiểu âm vận thì có thể dẫn đến sai lầm. Tri thức văn hóa cổ đại cũng vậy: để chấm câu chính xác cho sách cổ, bắt buộc phải nắm vững tri thức về mặt văn hóa cổ đại, đặc biệt là những tri thức liên quan đến thiên văn, địa lý, điển chương chế độ, phong tục tập quán... thời cổ đại; thiếu đi những tri thức ấy thì rất có thể sẽ chấm sai câu.
Trong phạm vi ấy, tri thức văn sử trong văn ngôn bao gồm tên (danh), tự, hiệu, thụy hiệu, niên hiệu của nhân vật, cùng các địa danh và chức quan thời cổ. Nắm được các từ ngữ chỉ tuổi tác, xưng hô, cách ghi ngày tháng năm, chức quan thì sẽ tránh được việc ngắt sai câu. Chẳng hạn “少小” nghĩa là thời thiếu niên; “无事” trong mạch văn hành chính cổ mang nghĩa “không cần thiết”, “không đáng phải bận tâm”; “省记” là ghi nhớ rõ ràng trong trí óc; “通籍” chỉ người đã đỗ Tiến sĩ, tên tuổi được ghi chép tâu lên triều đình; các chức danh “学士” (Học sĩ), “直院” (Trực viện), “权直” (Quyền trực) là các chế độ quan chế của Hàn lâm viện thời nhà Tống. Đoạn dưới đây, trích từ Sử ký • Lưu Hầu thế gia (《史记•留侯世家》), chưa ngắt câu, được nêu làm ví dụ mẫu:
汉六年正月封功臣良未尝有战斗功高帝曰运筹策帷帐中决胜千里外子房功也自择齐三万户良曰始臣起下邳与上会留此天以臣授陛下陛下用臣计幸而时中臣愿封留足矣不敢当三万户乃封张良为留侯与萧何等俱封。
Các dấu hiệu nhận biết trong đoạn này gồm: thời gian (Hán lục niên chính nguyệt); nhân vật lịch sử (Lương = Trương Lương = Tử Phòng, Cao Đế, Tiêu Hác); chức quan, bổng lộc (Tam vạn hộ, Hầu); địa danh lịch sử (Hạ Phi, Lưu).
IX. Những trường hợp dễ đoạn cú sai
Các ví dụ đã dẫn cho thấy cùng một chuỗi chữ có thể có nhiều khả năng phân đoạn, và chỉ ngữ cảnh mới xác định được khả năng nào đúng. Cụm “刺史惊问易于曰” có thể ngắt thành “刺史惊问,易于曰” hoặc để liền; cụm “扁鹊请除左右曰” cũng có hai cách ngắt như thế. Nhìn riêng cụm chữ ấy thì cả hai cách đều thông, nhưng người nói là ai thì chỉ biết được khi xét lời phía sau và diễn biến của toàn đoạn: ở truyện Hà Dễ Vu, lời phía sau là lời can gián của Hà Dễ Vu nên phải ngắt trước “曰”; ở truyện Biển Thước, diễn biến phía sau cho thấy lời ấy là của Biển Thước nên không ngắt. Câu “少时,一狼径去,其一犬坐于前” cho thấy một chỗ ngắt tưởng hợp lý về từng chữ (sau “犬”) lại phá vỡ quan hệ cú pháp, vì “犬” là trạng ngữ của động từ “坐” chứ không phải chủ ngữ. Đoạn Học Ký ở mục II cũng cho thấy nếu ngắt rời rạc theo từng cụm cô lập thì văn ý không còn thông suốt.
Có khi một câu đọc riêng từng vế đều thấy thông suốt mà vẫn sai về logic của toàn văn. Xin xem câu sau, trích từ Tư trị thông giám • Quyển 16, nếu thêm dấu như vậy:
诸垒相次土崩,悉弃其器甲,争投水死者十余万,斩首亦如之。
(Các doanh lũy lần lượt sụp đổ như đất lở, binh lính đều vứt bỏ khí giới áo giáp, xô đẩy nhau nhảy xuống nước chết đến hơn mười vạn người, số bị chặt đầu cũng tương tự).
Đoạn văn này dẫu đọc riêng lẻ từng vế thấy thông suốt, nhưng cụm “争投水死者十余万” (tranh nhau nhảy xuống nước chết) lại có chỗ phản logic tình lý: khi đồn lũy tan rã, binh lính tháo chạy vứt bỏ giáp trụ, mục đích nhảy xuống nước là để “tìm đường sống” bơi qua sông, chứ không phải nhảy xuống để “tự sát”. Do đó cách thêm dấu đúng là phải thêm dấu phẩy ngay sau “投水” (nhảy xuống nước), ngắt thành:
争投水,死者十余万
(tranh nhau nhảy xuống nước, người chết đuối lên đến hơn mười vạn).
Như vậy, khi gặp những chỗ có nhiều khả năng phân đoạn, không thể chỉ nhìn một cụm chữ cô lập; phải kiểm tra người nói, quan hệ cú pháp và ý nghĩa của cả đoạn. Nếu nội dung không hợp tình lý, rất có thể đã chấm sai dấu.
X. Quy trình thực hành đoạn cú
Từ những điều đã trình bày, việc đoạn cú có thể được hệ thống thành một quy trình thống nhất. Trước hết phải đọc thông suốt toàn văn, rồi hiểu văn ý, nắm nội dung cơ bản và chủ đề của bài, có chú ý đến thể tài và phong cách ngôn ngữ. Trên cơ sở ấy, theo nguyên tắc “dễ trước khó sau”, ngắt trước những chỗ có thể xác định chắc chắn để thu hẹp dần phạm vi những chỗ khó. Tiếp đó phân tích từ ngữ và hư từ, tức các phát ngữ từ, từ chỉ thời gian, hư từ phức hợp, khiêm từ, liên từ, phương vị từ, ngữ khí từ, thán từ, hô ngữ, số từ chỉ thứ tự và những từ ngữ báo hiệu đối thoại như “曰”, “云”, “言”, chú ý các trường hợp đặc biệt của “者”, “也”, “乎”. Rồi phân tích cấu trúc câu, tìm vị ngữ là động từ hoặc tính từ, xét chủ ngữ, tân ngữ, danh từ, đại từ, các cấu trúc đảo ngữ, các tổ hợp cố định và danh từ riêng không được chia cắt. Sau đó xét các câu thức cố định, rồi xét thủ pháp tu từ và đối ngẫu: ẩn dụ, đối lập, đính chân, trùng phục, bài tỷ, đối ngẫu, đối xứng, câu thức chỉnh tề, tứ lục, các từ giống nhau đứng liền nhau và quan hệ tổng – phân. Kế đến xét chương pháp, văn cảnh, âm vận và tri thức văn hóa lịch sử. Đến đây thì đoạn cú, theo nguyên tắc “đoạn trước điểm sau”, rồi mới thêm dấu câu theo phương pháp và yêu cầu thêm dấu câu của tiếng Hán hiện đại. Sau cùng phải đọc lại thông suốt toàn văn, dùng phân tích ngữ pháp hoặc ngữ cảm để kiểm tra xem các câu sau khi ngắt có giải thích thông suốt và hợp logic hay không.
(Kuangtuan tổng hợp biên tập)
Tài liệu tham khảo