Bàn giải thích nghi vấn về tấm mộ chí mới đào được do Nhan Chân Khanh thư đan: Vì đâu mà viết? Có phải là chính tay người viết?
Tác giả: Lý Minh李明
Chủ nhiệm, Nghiên cứu viên Phòng Nghiên cứu Khảo cổ Tùy Đường (Tây Tạng), Viện Nghiên cứu Khảo cổ học Thiểm Tây.
Tấm Mộ chí La Uyển Thuận, phu nhân của Nguyên Đại Khiêm, cựu Triều nghị lang Hành Giáng châu Long Môn huyện lệnh Thượng hộ quân(唐元大谦妻罗婉顺墓志 -故朝議郎行絳州龍門縣令上護軍元府君夫人) do Nhan Chân Khanh thư đan lúc ba mươi tám tuổi, là lần đầu tiên tại Thiểm Tây phát hiện được mộ chí do chính tay Nhan Chân Khanh viết, cũng là mộ chí do Nhan Chân Khanh thư đan lần đầu được khai quật khảo cổ học. Sau khi Viện Nghiên cứu Khảo cổ học Thiểm Tây công bố tin này, liền gây chấn động trên mạng, muôn vàn lời giải đọc và suy đoán lần lượt xuất hiện, đúng sai lẫn lộn, chất lượng thượng hạ bất đồng. Tôi thiết nghĩ, lỗi chủ yếu là lấy nhãn quan của người đời nay để hiểu hành vi của người đời xưa, lấy Nhan Chân Khanh bảy mươi tuổi để yêu cầu Nhan Chân Khanh ba mươi tám tuổi. Kính trọng Nhan Lỗ Công, với tư cách là người nghiên cứu mộ chí đời Đường và tham gia khảo cổ Tùy Đường, tất nhiên tôi cũng chú ý đến phát hiện khảo cổ trọng yếu này, xin rộng rãi trình bày chỗ thấy, để tiêu khiển quân tử. Cần nhấn mạnh rằng, mộ chí La Uyển Thuận không phải cổ vật truyền thế đơn độc, cùng với nó còn có ba loại mộ chí của thân quyến, cùng dấu vết khảo cổ và các cổ vật kèm theo, cần phải tổng hợp nghiên cứu. Lời giải thích về mộ chí La Uyển Thuận phải chờ tư liệu khảo cổ chính thức do người khai quật công bố làm chuẩn, những gì tôi thuật lại đây chỉ dựa trên tư liệu mạng, không có ý cướp công người khác.
Thân phận của La Uyển Thuận, lời đề trên mộ chí đã nói rất rõ ràng, bà là “Phu nhân của cố Triều nghị lang Hành Giáng châu Long Môn huyện lệnh Thượng hộ quân Nguyên phủ quân”. Triều nghị lang là tán quan văn chính lục phẩm thượng giai, đó là bản giai của Nguyên Đại Khiêm, tức là dấu hiệu thân phục mà ông ta được hưởng. “Hành Giáng châu Long Môn huyện lệnh” nghĩa là chức quan thực thụ Long Môn huyện lệnh có phẩm cấp thấp hơn bản giai chính lục phẩm thượng giai của Nguyên Đại Khiêm, cho nên mới dùng chữ “hành”. Chức lệnh thời Đường phẩm trật từ chính ngũ phẩm thượng đến chính thất phẩm hạ, không đồng đều, tùy theo số hộ khẩu nhiều ít mà định; Long Môn huyện là huyện thứ kỷ, tức là ở giữa hạng huyện thứ hai và hạng huyện thứ ba, là huyện khá tốt - đối với đại đa số quan lại trung hạ cấp đời Đường không có hy vọng thăng chức, đó coi là một kết thúc khá tốt. Thượng hộ quân là huân quan so với chính tam phẩm, nghe danh phẩm cấp rất cao, nhưng bổng lộc không được thực hiện, không có ý nghĩa thực tế. Rõ ràng, thân phận Nguyên Đại Khiêm là quan lại địa phương trung cấp, không phải quý tộc. Vậy thì thân phận La Uyển Thuận chỉ là thuộc hạ của một quan lại trung cấp đã qua đời, hết sức bình thường, chẳng có gì đáng khoe khoang.
So sánh với một mộ chí phụ nữ đời Đường cùng thời kỳ, có lẽ càng giúp cho việc lý giải. Viện Nghiên cứu Khảo cổ học Thiểm Tây còn lưu giữ mộ chí Vương Huy thê Lý Chính Nhất (王暉妻李正一墓誌 ) niên hiệu Thiên Bảo năm thứ 4 (747), đề “Đường cố Vệ úy thiếu khanh Vương phủ quân phu nhân Nguyên Thị huyện quân Lý thị mộ chí minh tịnh tự 唐故衛尉少卿王府君夫人元氏縣君李氏墓志銘並序”. Bởi vì chồng là Vương Huy là biểu huynh của Đường Huyền Tông, đã từng giữ chức Vệ úy thiếu khanh tòng tứ phẩm thượng giai, Lý Chính Nhất lại xuất thân tông thất, nên bà có tước phong ngoại mệnh phụ là Nguyên Thị huyện quân, là quý tộc phụ nữ không ngoa. Mộ chí của bà có kích thước 74 cm vuông, to hơn nhiều so với mộ chí La Uyển Thuận cạnh bên 51 cm. Bất luận từ góc độ nào để so sánh, thân phận địa vị của Lý Chính Nhất đều vượt xa La Uyển Thuận. Mộ chí Lý Chính Nhất cũng có đề tên người soạn văn và người thư đan. Người thư đan là Vi Khởi, ông ta không nổi tiếng, anh trưởng là Vi Thuật khá nổi tiếng. Vi Khởi khi viết mộ chí Lý Chính Nhất được 44 tuổi, chức quan đại khái là Giáng Quận tư thương tham quân (mộ chí Vi Khởi hiện nay cất tại Viện Nghiên cứu Khảo cổ học Thiểm Tây), đây là thuộc lại địa phương khoảng thất bát phẩm, ông ta ngay cả chức quan của mình cũng không ghi, chỉ viết quận vọng của mình, rằng “Kinh Triệu Vi Khởi”. Vi Khởi kém xa Nhan Chân Khanh nổi tiếng, nhưng đó là cái nhìn của người hiện đại, có lẽ người Đường sống vào khoảng đầu niên hiệu Thiên Bảo không hẳn đã nghĩ như vậy.
Tổ tiên La Uyển Thuận đáng khoe nhất, là đã từng cưới con gái hoàng thất. Tằng tổ phụ của bà từng cưới Kim Minh huyện chúa - đường muội của Đường Cao Tổ, do đó làm quan đến tam phẩm. Tổ phụ bà không ra làm quan, cha bà chỉ là thuộc lại địa phương Gia Châu tư thương tham quân. La Uyển Thuận mất năm Thiên Bảo năm thứ 5 (746), hưởng thọ “bốn trăm năm mươi giáp tý”, tính ra là 74 tuổi.
Trong trường hợp không có thông gia, cố lại v.v. làm mối, Nhan Chân Khanh, lúc đó ba mươi tám tuổi làm huyện úy Trường An, dĩ nhiên không thể nào có qua lại và hiểu biết sâu sắc với một bà lão 74 tuổi đã góa phụ nhiều năm. Vậy thì vì sao Nhan Chân Khanh lại viết mộ chí cho Lão phu nhân họ La vốn chỉ là dân thường dưới quyền cai trị của mình?
Một tấm mộ chí cổ, chủ mộ dĩ nhiên là quan trọng nhất, nhưng mộ chí biểu đạt ý nguyện của người thỉnh cầu, chứ không phải của chủ mộ. Người thỉnh cầu mộ chí La Uyển Thuận, là con trai kế tự là Nguyên Bất Nghi. La Uyển Thuận có bảy người con trai, không còn nghi ngờ gì nữa, Nguyên Bất Nghi là con trai trưởng còn sống của bà. Cùng lúc khai quật còn có mộ chí của con trai khác là Nguyên Bất Khí, Nguyên Bất Khí chưa ra làm quan, không có chức vụ. Còn Nguyên Bất Nghi với tư cách con trai kế tự, hẳn cũng không có chức vụ, nếu không thì Lý Tấn đã không không ghi chức quan của ông ta. Nguyên Bất Nghi không có chức vụ, thì chỉ là một dân thường trong thành Trường An, cha ông mấy chục năm trước từng làm huyện lệnh, chỉ vậy mà thôi. Nhưng theo người khai quật giới thiệu, Nguyên Bất Nghi có một thân thích trong gia tộc rất có thế lực - đường tỷ của ông ta, là Vương phi của Ninh Vương Lý Hiến, anh trưởng của đương kim hoàng đế, ông ta có qua lại với con trai Lý Hiến là Nhữ Dương Quận vương Lý Tấn. Lý Tấn đã soạn văn bia cho La Uyển Thuận, tự xưng là ngoại chất tôn.
Còn Nhan Chân Khanh không liên quan gì đến Nguyên Bất Nghi, khi đó chức quan là huyện úy Trường An. Huyện úy là chức tá quan nha môn, coi việc quân sự trong huyện, truy bắt trộm cướp. Thời Đường phụ trách khóa điều thu thuế, xét xử các việc tào Tư hộ, Tư pháp v.v., số người và phẩm cấp tùy theo cấp huyện mà khác nhau, ít thì một người, nhiều thì sáu người, giai cấp từ tòng bát phẩm hạ đến tòng cửu phẩm hạ không đều. Thường là chức quan ban đầu cho người đỗ tiến sĩ ra làm quan. Huyện úy vùng kinh kỳ đặc biệt hiển trọng, vào triều có thể được bổ làm Lang quan, Ngự sử v.v. Trường An là huyện kinh kỳ, Nhan Chân Khanh sau đó từ chức huyện úy Trường An chuyển sang làm Giám sát ngự sử. Nhà Nguyên Bất Nghi ở phường Nghĩa Ninh, phía tây bắc hoàng thành Trường An, thuộc quyền cai quản của huyện Trường An. Quan hệ giữa Nguyên Bất Nghi và Nhan Chân Khanh, là quan hệ giữa dân huyện và phụ mẫu quan. Tuy nhiên, thân thích hoàng tộc dưới quyền huyện Trường An nhiều như mây nổi, không có chứng cứ nào cho thấy Nguyên Bất Nghi và Nhan Chân Khanh có qua lại.
Cũng có người hỏi: Nhan Chân Khanh viết mộ chí này hẳn phải thu không ít tiền nhuận bút chứ? Thực tế việc chế tác mộ chí đời Đường, coi trọng văn chương hơn kỹ nghệ. So sánh giữa soạn văn và thư đan, nhất định phía trước quan trọng hơn. Ban đầu mộ chí chỉ đề tên người soạn, về sau mới có cả tên người soạn và người thư đan cùng đề, nhưng chưa từng thấy chỉ riêng người thư đan được đề, đó là đạo lý. Trương Thuyết và Hàn Dũ thu khoản nhuận bút soạn văn bia ký rất lớn, là câu chuyện ai cũng biết, còn việc thư đan thu nhuận bút thì chưa từng nghe. Huống chi, Nhan Chân Khanh 38 tuổi, danh tiếng thư pháp chưa rạng rỡ, lúc đó ông chưa phải đại thư pháp gia được xã hội công nhận, làm gì có chuyện thu nhuận bút? Lùi một bước, cho dù viết chữ lấy tiền là hợp lý, một huyện úy bát phẩm, sao có thể mở miệng đòi tiền nhuận bút của thân thích quận vương? Như vậy thì tình thương phải thấp kém đến cỡ nào?
Chỉ có một cách giải thích hợp lý, đó là Nhan Chân Khanh xem mặt Lý Tấn mà thư đan mộ chí cho Lão phu nhân họ La. Điểm này, người khai quật đã suy luận, tôi rất tán đồng. Nhan Chân Khanh nhất định là quen biết Lý Tấn, có lẽ hai người còn là bạn bè. Đã là quận vương sai bảo, thì không thể chối từ, huống chi là tô điểm thêm hoa trên gấm cho bài văn của quận vương, sao lại không làm? Việc thư đan mộ chí cho Lão phu nhân họ La, chỉ là việc làm dễ dàng, trong cuộc đời sóng gió của Nhan Chân Khanh căn bản không đáng kể gì, chỉ là người hiện đại chúng ta cho rằng mỗi chữ đại thư pháp gia viết ra đều đáng giá nghìn vàng, đó là nhận thức lệch lạc do khoảng cách thời gian mà ra.
Tôi không có ý bất kính với Nhan Lỗ Công. Tôi chỉ nói rằng, kết giao quyền quý, nâng cao môn đệ, đó là lệ thường trong con đường làm quan thời Đường, trừ phi bạn muốn ẩn cư nơi rừng suối, bằng không thì giữ mối quan hệ tốt với đại thần trong triều là điều kiện tất yếu để thăng tiến. Nhan Chân Khanh xuất thân hàn môn, không có quý thích để dựa vào làm cơm ăn lâu dài, ông phải nắm bắt mọi cơ hội. Sự thật đã chứng minh, Nhan Chân Khanh quả thực đã nắm bắt rất tốt đa số cơ hội. Và sự nỗ lực mài giũa tài nghệ thư pháp của mình, cũng là ông đang chuẩn bị cho những cơ hội đến.
Xã hội cổ đại Trung Quốc phụng hành quan niệm “muôn nghề đều hèn, duy có làm quan là cao”, nghệ thuật thư pháp cao siêu là sản phẩm phụ của con đường đọc sách làm quan. Tổ tiên của Nhan Chân Khanh, người đặt nền móng gia huấn Trung Quốc là Nhan Chi Thôi đã từng răn dạy con cháu: “Ta từ nhỏ nối nghiệp nhà, tính lại mến yêu, thấy các pháp thư cũng nhiều, công phu luyện tập cũng khá, nhưng viết không được hay, thực sự là do vô duyên vậy. Tuy nhiên nghệ thuật này không cần phải quá tinh xảo. Kẻ khéo thì mệt, người trí thì lo, thường bị người ta sai sử, càng thấy mệt mỏi. Lời di huấn của Vi Trọng Tương, thật có lý sâu xa.” (Nhan thị gia huấn - Tạp nghệ thiên). Nghĩa là: Ta yêu thư pháp, cũng đã hạ công phu, thư pháp của ta không tốt là vì không có thiên phú. Tuy nhiên, thư pháp cũng đừng viết quá hay, dễ thường bị người ta gọi đến viết chữ, mệt mỏi. Câu chuyện của Vi Đản chính là tấm gương xấu hay. Ngầm ý là các con nên sai khiến người khác viết chữ chứ đừng để bị người khác sai khiến. Nhan Chi Thôi nói những lời này hẳn không nghĩ rằng, con cháu ông rốt cục vẫn trở thành một trong những thư pháp gia vĩ đại nhất lịch sử, và chức quan cũng đạt đến đỉnh điểm của gia tộc.
Trở lại mộ chí Vương Huy thê Lý Chính Nhất, Lý Chính Nhất là một quý phụ có tước vị, chồng bà là con trai của Cao An trưởng công chúa, biểu huynh của đương kim hoàng đế, phó trưởng cơ quan trung ương chính phủ, thân phận vợ chồng bà ít nhất cao hơn vợ chồng La Uyển Thuận bảy cấp. Người soạn và thư đan mộ chí cho Lý Chính Nhất chỉ là Trình Hưu và Vi Khởi vô danh tiểu tốt. Nhưng cần chú ý rằng, Vi Khởi xuất thân Kinh Triệu Vi thị, là dòng họ đệ nhất đẳng lớn nhất thời Đường, “Từ thời Đường trở đi, sự hưng thịnh của thị tộc, không có gì vượt qua họ Vi.” (Cựu Đường thư - Vi Thuật truyện). So với môn đệ Lang Da Nhan thị của Nhan Chân Khanh thì cao hơn rất nhiều. Dòng họ Vi ra thư pháp gia cũng sớm hơn dòng họ Nhan. Vi Đản được Nhan Chi Thôi nhắc đến, là đại thư pháp gia thời Tam Quốc Tào Ngụy. Ngụy Minh Đế xây Lăng Vân đài thành, trên bảng chưa viết chữ mà đã đóng đinh lên, để cho Vi Đản đề bảng, dùng lồng treo ông lên cao hai mươi lăm trượng. Vi Đản mắc chứng sợ độ cao, sau khi viết xuống đất, tóc đều bạc trắng, từ đó răn con cháu đừng tập thư pháp nữa. Tôi xem thư pháp mộ chí Lý Chính Nhất, chưa chắc đã kém hơn mộ chí La Uyển Thuận (Hình 1).

(Hình 1)
Vi Khởi có trưởng huynh là Vi Thuật, cũng là tác giả cuốn Lưỡng Kinh tân ký, đến niên hiệu Thiên Bảo thập nhất tải (752) làm đến Ngân thanh quang lộc đại phu Hành Công bộ thị lang, Tập hiền viện học sĩ, Tri sử quan sự, kiêm Lễ nghi sứ, Thượng trụ quốc, tước phong Phương Thành huyện khai quốc tử, là kẻ chỉ đứng sau tể tướng, cũng là sử học gia, danh lưu đương thời, các em trai đều đang làm quan. Vợ của Nhan Chân Khanh là con gái của Vi Địch, trưởng huynh của Vi Khởi, lúc 26 tuổi ông đỗ tiến sĩ, việc đầu tiên làm là cưới con gái dòng họ Kinh Triệu Vi thị, để nâng cao môn đệ của mình. Cứng rắn như Nhan Lỗ Công, cũng không thể thoát khỏi tục thế. Trong việc chọn người thư đan mộ chí, trình độ nghệ thuật thư pháp không phải là yếu tố đầu tiên. Có thể để tể tướng viết là tốt nhất, quan lại xuất thân danh môn đại tộc cũng là lựa chọn không tồi, thực sự bất đắc dĩ thì mời phụ mẫu quan cấp huyện cầm bút cũng có chút mặt mũi. Lại nêu thêm một ví dụ: Thần đạo bi của Đậu Hy Quỳnh, thân cậu của Đường Huyền Tông, tước Tất Quốc công, người soạn văn là tể tướng Bùi Diệu Khanh, người thư đan là Đậu Cự, tòng chất của Đậu Hy Quỳnh, lúc đó làm hình bộ viên ngoại lang, nhà phê bình thư pháp nổi tiếng thời Đường, người thỉnh cầu là Xương Lạc trưởng công chúa, chỉ có sự sắp xếp nhân sự như vậy mới xứng đáng với nỗi buồn Vị Dương của hoàng đế.
Cho đến nay, mộ chí do Nhan Chân Khanh thư đan đã phát hiện chỉ có 3 loại, có lẽ sau này cũng khó phá vỡ con số này. Điều này khác xa với số lượng bia đá ông thư đan còn tồn tại, nói lên rằng Nhan Chân Khanh không ưa viết mộ chí. Viện Nghiên cứu Khảo cổ học Thiểm Tây còn lưu giữ một mộ chí do Nhan Chân Khanh 70 tuổi soạn văn, nhưng người thư đan không phải ông (Hình 2). Điều này dường như khó hiểu, một đại thư pháp gia soạn văn mộ chí cho người mà không dùng chữ của ông ta? Rõ ràng trong năm đó ông còn viết bên lề cho bia Tống Cảnh. Không chỉ Nhan Chân Khanh, các thư pháp gia thời Đường đều không ưa viết mộ chí. Mộ chí yêu cầu chữ viết đoan chính, có thể đạt được điều này thì quan lại bình thường thời Đường đông như cá diếc, thực sự không cần phiền đến thư pháp gia có danh tiếng quá lớn. Giống như Bá tổ phụ của Nhan Chân Khanh là Ân Trọng Dung, ông ta thường đề biển cho chùa miếu, viết bia lớn cho các quan lại cao cấp; giống như Đường Tòng Tâm, thông gia của Thái Bình công chúa, vì biểu tượng Thiên Xu của Lạc Dương mà đề khắc minh văn. Đó mới là việc một thư pháp gia được công nhận nên làm.

(Hình 2)
Bởi vì là tác phẩm thời kỳ đầu của Nhan Chân Khanh, mộ chí La Uyển Thuận không thể đại diện cho phong cách nghệ thuật thành thục của thư pháp Nhan Chân Khanh, nhưng điều này không ảnh hưởng đến giá trị quan trọng của nó đối với việc nghiên cứu sự tiến hóa nghệ thuật của Nhan Chân Khanh - vị “Á thánh” thư pháp Trung Quốc. Chúng ta nghiên cứu nó, nhất định phải đặt nó vào môi trường thời không lúc bấy giờ để tổng hợp xem xét, không cần tâng bốc cũng không thể bôi xấu. Viện Nghiên cứu Khảo cổ học Thiểm Tây còn lưu giữ một mộ chí Mạnh Thiệp khắc vào tháng 10 niên hiệu Trinh Nguyên thập lục tải (800). Người thư đan đề là “Lang Da Nhan Tự”. Phong cách thư pháp của mộ chí này là Thể Nhan tiêu chuẩn thời kỳ đầu, hoàn toàn giống dáng vẻ khải thư của Nhan Chân Khanh khi bốn mươi năm mươi tuổi (Hình 3), so với Quách Hư Kỷ mộ chí cũng không kém cạnh. Nhan Tự là ai không rõ, nhưng từ quận vọng tự xưng, ông là hậu nhân của Nhan Chân Khanh. Nếu đều che tên người thư đan, thì mộ chí Mạnh Thiệp và mộ chí La Uyển Thuận đặt cạnh nhau, nhất định sẽ gây nhầm lẫn.

(Hình 3)
Tôi muốn nói rằng, dù bạn từng học thư pháp hay chưa từng tập viết, dù thất vọng hay không muốn thừa nhận, thì mộ chí La Uyển Thuận vẫn là do Nhan Chân Khanh thủ thư, sự thật này không thể thay đổi.
Chú thích:
Chú thích thuật ngữ, nhân vật và điển cố:
Nhân vật:
Thuật ngữ quan chế đời Đường:
Điển cố - Văn hóa:
Thời đại - Niên hiệu:
Dòng họ lớn:














