Khảo Luận Về Giáo Dục Thư Pháp Thời Ngụy Tấn Nam Bắc Triều -魏晉南北朝書法教育考論
Tác giả: Chu Kiến Hoa (朱建華) – Tiến sĩ, Phó giáo sư Đại học Sư phạm Nam Kinh
Trích Yếu
Giáo dục thư pháp trong hệ thống giáo dục công học (quan học) thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều được thể hiện qua hình thức chuyên khoa giáo dục mới phát triển lúc bấy giờ - thư học giáo dục. Còn trong tư học (giáo dục tư thục), nó thể hiện qua các hình thái như mông học, tôn giáo giáo dục, gia học và sư thụ. Các môn phiệt sĩ tộc thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, vì muốn củng cố và duy trì địa vị gia tộc của mình, rất coi trọng việc phát dương quang đại gia học. Ngoài Nho học truyền thống ra, từ cuối đời Hán đến thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, nghệ thuật thư pháp với tư cách là kỹ nghệ viết chữ đã nhận được sự coi trọng chưa từng có từ phía các văn nhân sĩ đại phu.
I. Sự Suy Đồi Của Giáo Dục Trường Học Thời Ngụy Tấn Nam Bắc Triều
Cuối đời Hán, chính quyền nhà Hán sụp đổ, cục diện Tam Quốc (Ngụy, Thục, Ngô) chân vạc hình thành, chế độ tập quyền trung ương của nhà Hán tan rã, tư tưởng "độc tôn Nho thuật" từ thời Hán Vũ Đế cũng theo đó mà giải thể. Tam Quốc Chí · Ngụy thư · Vương Túc truyện chú dẫn rằng: "Từ năm Sơ Bình (190) đến cuối năm Kiến An (219), thiên hạ phân tranh, người ta ôm lòng tạm bợ, cương kỷ suy tàn, Nho đạo đặc biệt suy vi." Sự giải thể của tư tưởng độc tôn Nho thuật này không chỉ là hình thức, mà sâu xa hơn là thể chế bị xung kích từ bên trong. Dù có "năm Hoàng Sơ thứ 5 (224), lập Thái học, đặt phép khảo thí Ngũ kinh, thiết lập học quan Bác sĩ cho Xuân Thu và Cốc Lương", sự phát triển của Nho học cũng đến hồi cùng đường. "Sau năm Hoàng Sơ thứ nhất (220), tân chủ nối ngôi, mới bắt đầu quét sạch tro tàn của Thái học, vá lấp chỗ khuyết hỏng của bia đá cũ, bổ sung đầy đủ các chức Bác sĩ, theo phép giáp ất của nhà Hán để khảo hạch, thông báo cho các châu quận, ai muốn học đều cho đến Thái học. Thái học mới mở, có vài trăm học trò. Đến thời Thái Hòa, Thanh Long, trong ngoài có nhiều việc, người ta thường tránh vạ, dù không thực sự ham học cũng tìm cách vào Thái học. Số học sinh Thái học lên đến hàng nghìn, nhưng các Bác sơ đều thô sơ, không đủ sức dạy học trò. Học trò vốn cũng chỉ để tránh việc dịch, rốt cuộc chẳng chịu học hành, mùa đông đến mùa xuân đi, năm này qua năm kSi... Đến niên hiệu Chính Thủy, có chiếu bàn việc tế đất, mời rộng các học sĩ. Khi đó các quan lang và lại thuộc của Tư đồ có hơn hai vạn người, tuy phân bố khắp nơi, nhưng những người ở kinh sư còn đến vạn người, thế mà những người ứng chiếu tham gia bàn nghị thì chẳng có mấy ai. Lại nữa, khi đó từ triều thần công khanh trở xuống, hơn bốn trăm người, những người biết cầm bút viết chữ chưa đến mười người, phần nhiều đều ngồi ăn no rồi lui về. Than ôi! Học nghiệp suy vong đến thế là cùng!" Sự suy bại của học nghiệp khiến cho "từ thời Hoàng Sơ trở đi, lập Thái học được hơn hai mươi năm, mà người thành đạt chẳng có mấy." Xét nguyên nhân, "bởi vì việc chọn Bác sĩ bị xem nhẹ, các học sinh chỉ để tránh lao dịch, con em nhà cao cửa rộng lại lấy làm hổ thẹn khi phải ngang hàng với hạng thấp kém. Cho nên người học tuy có danh mà không có thực, dù đặt ra việc dạy học mà không có công hiệu."
Tình trạng như vậy không chỉ xảy ra ở nước Ngụy.
Tam Quốc Chí · Thục thư · Đỗ Chu Đỗ Hứa Mạnh Lai Doãn Lý Kham Khiếu Đặng truyện chép: "Tiên chủ (Lưu Bị) bình định đất Thục, kế thừa cảnh loạn lạc kéo dài, học nghiệp suy phế."
Tam Quốc Chí · Ngô thư · Tam tự chủ truyện chép: "(Năm Vĩnh An thứ nhất) chiếu rằng: Từ năm Kiến Hưng trở đi, việc đời nhiều biến cố, lại dân phần nhiều chạy theo việc trước mắt, bỏ gốc theo ngọn, không theo đạo xưa."
Đời Tấn, "dù có tôn sùng Nho học, khuyến khích học hành, nhiều lời trong chiếu chỉ, nhưng các trường học ở đông tự tây trường, chưa từng nghe tiếng đàn ca... Nhà Tấn bắt đầu từ triều đình trung ương, chiếu chỉ đến vùng Giang Tả, đều không ngoài sự chuộng hư văn, bắt chước huyền hư. Trích dẫn điển tịch của Khổng Tử, tập theo dư luận của Chính Thủy (niên hiệu đời Ngụy), xem lễ pháp là thói tục, coi phóng túng là thanh cao. Khiến cho hiến chương bị bỏ rơi, danh giáo bị tàn phá."
Tình hình Nam Bắc triều lại ra sao?
Nam Sử · Liệt truyện đệ lục thập nhất · Nho Lâm chép: "Từ sau niên hiệu Chính Thủy đời Ngụy, người ta càng chuộng huyền hư, công khanh sĩ thứ, ít ai thông suốt kinh nghiệp. Bấy giờ các bậc như Tuân Quýnh, Chí Ngu tuy có bàn việc chế định, nhưng chẳng thể thay đổi phong tục được. Từ đó trung nguyên hỗn loạn, áo mũ sĩ phu tan tác. Đến khi Giang Tả mới dựng nước, ngày tháng chẳng có rảnh. Trải đến thời Tống, Tề, quốc học có khi mở, có khi đóng, mà việc khuyến học chưa được rộng, lập ra chưa đầy mười năm đã bỏ, chỉ là hình thức cho có vậy."
Quốc học đời Nam triều khi mở khi đóng. Thời Tống Văn Đế, từng có bốn khoa Huyền, Nho, Văn, Sử cùng tồn tại. Tống Thư · Lôi Thứ Tông truyện chép: "Năm Nguyên Gia thứ 15 (438), vời Lôi Thứ Tông đến kinh sư, mở trường tại núi Kê Hỗ (Kê Sơn), tụ họp học trò dạy dỗ, đặt hơn một trăm sinh viên. Hội Kê Chu Dũng Chi, Dĩnh Xuyên Dũ Úy Chi đều nhờ Nho học mà coi sóc toàn thể sinh viên. Lúc đó quốc tử học chưa lập, bệ hạ để tâm đến nghệ thuật, sai Đan Dương doãn Hà Thượng Chi lập khoa Huyền học, Thái tử suất canh lệnh Hà Thừa Thiên lập khoa Sử học, Tư đồ tham quân Tạ Nguyên lập khoa Văn học. Tất cả bốn khoa cùng được thành lập." Thời Tống Minh Đế, thay quốc học, lập riêng Tổng Minh Quán, giảng dạy bốn khoa Huyền, Nhu, Văn, Sử. Tống Thư · Minh Đế kỷ chép: "(Tháng 9 năm Thái Thủy thứ 6) ngày Mậu Dần, lập Tổng Minh Quán, mời học sĩ đến, đặt Đông Quan Tế tửu."
Đời Tề, noi theo chế độ Tổng Minh Quán. Nam Tề Thư · Vương Kiệm truyện chép: "Năm ấy, bỏ Tổng Minh Quán, mở Quán Học Sĩ tại nhà Kiệm, lấy tất cả sách vở bốn bộ (kinh, sử, tử, tập) chất đầy nhà Kiệm, lại chiếu cho Kiệm lấy nhà mình làm phủ."
Thời Lương Vũ Đế, "nghĩ sâu về điều tệ hại đó, năm Thiên Giám thứ 4 (505), bèn chiếu mở năm trường (Ngũ quán), lập quốc học, lấy Ngũ kinh dạy học, đặt mỗi vị Bác sĩ cho một kinh."
Thời Trần Vũ Đế, "lúc ấy trải qua loạn ly, sĩ phu hao tổn, giặc giã chưa yên, phương kế khuyến khích, chưa có thì giờ lo tới."
Bắc triều trước thời Hiếu Minh Đế khá coi trọng Nho thuật.
Bắc Sử · Nho Lâm chép: "Thái Tổ nhà Bắc Ngụy mới bình định trung nguyên, dù ngày tháng không rảnh, nhưng mới dựng đô ấp, đã lấy kinh thuật làm đầu, lập Thái học, đặt Ngũ kinh Bác sĩ, sinh viên có hơn nghìn người... Thời Minh Nguyên, đổi quốc tử thành Trung thư học, đặt Bác sĩ dạy học. Thái Vũ năm Thủy Quang thứ 3 (426) mùa xuân, dựng Thái học ở phía đông thành, sau đó mời Lư Huyền, Cao Doãn... và lệnh các châu quận tiến cử người tài học. Từ đó nhiều người mài giũa đạo đức, Nho thuật được hưng thịnh. Hiến Văn đầu niên hiệu Thiên An, chiếu lập hương học, mỗi quận đặt Bác sĩ hai người, Trợ giáo hai người, học sinh sáu mươi người... Niên hiệu Thái Hòa (thời Hiếu Văn Đế), đổi Trung thư học thành Quốc tử học... rồi dời đô về Lạc Ấp, chiếu lập Quốc tử Thái học và Tứ môn Tiểu học... Thời Tuyên Vũ lại chiếu xây dựng Quốc học, đặt Tiểu học ở bốn cửa, chọn lựa rộng rãi các nho sinh, làm Bác sĩ Tiểu học, có bốn mươi người. Tuy trời đất chưa yên, nhưng kinh thuật càng nổi bật. Lúc đó thiên hạ thái bình, học nghiệp rất thịnh, cho nên vùng Yên, Tề, Triệu, Ngụy, những người bày sách giảng học, không thể đếm xuể, lớn thì hơn nghìn người, nhỏ thì vài trăm. Các châu tiến cử người xuất sắc, các quận dâng hiếu liêm, ra mắt triều đình, mỗi năm càng nhiều."
Tuy nhiên, sau thời Hiếu Minh, "từ niên hiệu Hiếu Xương trở đi, trong bốn biển hỗn loạn, các trường học bốn phương, tồn tại không còn bao nhiêu."
II. Giáo Dục Thư Pháp Thời Ngụy Tấn Nam Bắc Triều
A) Quan Học (Công Học) Thời Ngụy Tấn Nam Bắc Triều
Tuy tổng thể mà nói, do địa vị độc tôn của Nho học bị sụp đổ và ảnh hưởng của chính trị môn phiệt, giáo dục thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều có biểu hiện suy thoái, nhưng không có nghĩa là quan học thời kỳ này không có gì đáng kể. Ngay khi mới lập nước, biện pháp giáo dục đầu tiên của Tào Ngụy là khôi phục Thái học - thứ đã được xây dựng nền tảng vững chắc trong lòng người từ thời Hán. Tuy người cầm quyền nhà Ngụy không hứng thú với Nho học, mà lại chuộng pháp thuật và ưa văn học, nhưng vì Nho học có sức gắn bó tự nhiên với việc duy trì trật tự phong kiến và chính thống, nhà cầm quyền vẫn bỏ nhiều công sức vào Thái học, họ hoàn thiện chế độ Thái học, kết hợp giáo dục Thái học với việc bổ nhiệm và đề bạt quan lại. Thông Chí · Tuyển Cử Lược nhị chép: "Ngụy Văn Đế năm Hoàng Sơ thứ 5, lập Thái học tại Lạc Dương. Khi đó người mộ học đến Thái học làm môn nhân. Đủ hai năm thi thông một kinh thì làm đệ tử (sinh viên chính thức), không thông thì bị trả về. Đệ tử đủ hai năm thi thông hai kinh thì bổ làm Văn học chưởng cố, không thông thì cho thi lại sau, thi thông hai kinh cũng được bổ Văn học chưởng cố. Đủ ba năm thi thông ba kinh thì được chọn vào hạng cao, làm Thái tử xá nhân, không thông thì cho thi lại sau, thi thông cũng được làm Thái tử xá nhân. Xá nhân đủ hai năm thi thông bốn kinh thì chọn vào hạng cao làm Lang trung, không thông thì cho thi lại sau, thi thông cũng được làm Lang trung. Lang trung đủ hai năm thông năm kinh thì được chọn vào hạng cao, tùy tài năng sắp xếp chức vụ, không thông thì thi lại sau, thi thông cũng được sắp xếp." Phương pháp này trực tiếp liên hệ việc thông suốt bao nhiêu kinh với việc thăng quan tiến chức, thể hiện sự xác lập tính chế độ của giáo dục Thái học.
Thời Tây Tấn, địa vị chính trị của môn phiệt sĩ tộc càng được củng cố, họ càng đòi hỏi đặc quyền giáo dục cho con em sĩ tộc, mà bấy giờ số Thái học sinh đã lên đến hơn bảy nghìn người, điều này đã chiếm dụng không gian học tập và thăng tiến của con em sĩ tộc. Vì vậy, "thời Huệ Đế muốn phân biệt điều xấu, nên năm Nguyên Khang thứ 3 mới lập Quốc tử học, những người có quan phẩm từ cấp năm trở lên mới được vào Quốc tử học." Quốc tử học thực chất là một trường riêng dành cho con em sĩ tộc. Hiển nhiên, đây là sự công khai thể hiện đặc quyền giáo dục của môn phiệt sĩ tộc, ai sang ai hèn đã rõ ràng.
Do ảnh hưởng của môn phiệt sĩ tộc đối với đặc quyền giáo dục ngày càng sâu rộng, địa vị của Quốc tử học đến thời Đông Tấn và Nam Bắc triều dần vượt lên trên Thái học.
Ở đây cần đặc biệt nhấn mạnh rằng, Bắc Ngụy là thời kỳ dân tộc TSi Bạt vào trung nguyên. Trong quá trình Hán hóa, Bắc Ngụy noi theo chế độ của hai đời Tấn, giáo dục cũng vậy. Nhưng chế độ quan học của Bắc Ngụy không chỉ giới hạn ở Thái học và Quốc tử học. Ngụy Thư chép, khi Đạo Vũ Đế mới bình định trung nguyên, đặt Thái học, lập Ngũ kinh Bác sĩ, tuyển sinh hơn nghìn người. Năm Thiên Hưng thứ 2 (399), tăng thêm sinh viên Quốc tử và Thái học lên 3000 người. Năm sau, đổi Thái học thành Trung thư học. Thái Vũ Đế năm Thủy Quang thứ 3 (426), lại lập Thái học ở phía đông thành, lệnh các châu quận trong thiên hạ cử người tài học vào kinh học. Niên hiệu Thái Hòa thời Hiếu Văn Đế, đổi Trung thư học thành Quốc tử học, xây dựng Minh đường, Bích dũng, tôn vinh "tam lão ngũ canh", lại mở học cho hoàng tử (Hoàng tông học). Khi dời đô về Lạc Dương, lập Quốc tử học, Thái học, Tứ môn Tiểu học. Quan học Bắc Ngụy nhằm thúc đẩy quá trình giáo dục Hán hóa, nâng cao trình độ Nho học của các tầng lớp xã hội, đã quan tâm đến nhu cầu giáo dục từ hoàng tử, sĩ tộc cho đến bình dân và con em nhà nghèo, mở ra mô hình quan học đa dạng.
Quan học địa phương thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, trước thời Bắc Ngụy, cơ bản do chủ quan của các quan viên địa phương quyết định, giống như thời trước, trung ương hầu như không có mệnh lệnh cứng rắn. Đông Hán Kiến An năm thứ 8 (203), Tào Tháo cảm thấy thiên hạ phân tranh khiến "những người sinh sau không được thấy phong độ nhân nghĩa lễ nhượng", liền ra lệnh các quận quốc đặt học quan. Điều này sau đó được ca ngợi rộng rãi. Nước Ngụy, Cao Nhu nói: "Thái Tổ mới dấy nghiệp, thấy điều đó, trong lúc vãn hồi hỗn loạn, đã bắt các quận huyện lập học quan." Bắc Ngụy, Dương Thâm nói: "Vũ Đế nhà Ngụy dù ở trong quân vẫn lo việc tu học." Việc trung ương không có mệnh lệnh cứng rắn về giáo dục địa phương một phần là do không có nhu cầu cấp bách về tuyển chọn nhân tài địa phương, nhưng các chính quyền dân tộc thiểu số thời Thập lục quốc vì thiếu nhân tài nên nhu cầu này đặc biệt mạnh mẽ. Đến thời Bắc Ngụy, do chính quyền tương đối ổn định, chế độ quận quốc học ra đời. Hiến Văn Đế Bắc Ngụy có chiếu rằng: "Từ trước đến nay, việc trường học không được xây dựng đã lâu ngày. Đạo đức suy đồi, học nghiệp bỏ phế, tiếng than thở của học trò, lại thấy ở ngày nay. Trẫm kế thống đại nghiệp, bốn phương yên ổn, xét theo điển chế cũ, muốn đặt học quan ở các quận quốc, để cho những người lo việc tiến tu có nơi nương tựa. Các khanh là bậc tông sư Nho học, kỳ cựu trong triều, đức hạnh cũ kỹ, nên cùng với Trung thư tỉnh và Bí thư tỉnh bàn bạc để tâu trình." Các đại thần tham nghị như Cao Doãn sau khi bàn bạc, "cùng tụ tập ở hai tỉnh, xem xét sử sách, tìm hiểu hết điển tịch, không gì không khuyến khích Nho học để thúc đẩy nghiệp học, coi trọng học vấn để làm cho đạo đức vững chắc. Kính nghĩ chiếu sáng, hợp với nghĩa cổ, nên theo thánh chỉ, xây dựng trường học để cải thiện phong tục", và đã trình lên Hiến Văn Đế một kế hoạch chế độ học vụ khá chi tiết. Hiến Văn Đế vào tháng 7 năm Thiên An thứ nhất (466), "lần đầu lập hương học, mỗi quận đặt hai Bác sĩ, hai Trợ giáo, sáu mươi học sinh." Đây là lần đầu tiên trong lịch sử triều đình ban bố chế độ quan học địa phương, kSi với chế độ học quan địa phương trước đây chỉ phụ trách việc giáo hóa.
B) Tư Học (Tư Thục) Thời Ngụy Tấn Nam Bắc Triều
Trong bối cảnh giáo dục trường học suy thoái, dù giáo dục quan học thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều cũng có những điểm đáng khen, nhưng ảnh hưởng và hiệu quả của nó quả thực không tương xứng với địa vị của quan học. Các cuộc thay đổi chính quyền liên tục khiến cho giáo dục quan học qua các thời kỳ vận hành và kết nối không được trôi chảy và ổn định. Do đó, sự phát triển nhanh chóng của tư học đã lấp đầy khoảng trống này. So với thời Hán, tư học thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều có những đặc điểm kSi biệt:
Thứ nhất, tư học thời kỳ này đã không còn bị ràng buộc bởi "độc tôn Nho thuật" từ thời Hán, cả về hình thức dạy học lẫn nội dung giảng dạy đều mang tính đa dạng. Một số môn học chuyên khoa bị coi là "tiểu xảo" theo quan niệm truyền thống, như thiên văn, lịch toán, bốc dịch, thư học, y học, gia phả học,... đều rất thịnh hành trong tư học. Đây là do nhu cầu xã hội quyết định. Giáo dục chuyên khoa trong quan học thực ra cũng chịu ảnh hưởng tương tự từ tư học. Tất nhiên, xét về nội dung giảng dạy, Nho học vẫn là chủ lưu.
Thứ hai, xét về mối quan hệ chủ - phụ, tư học thời Hán chủ yếu đóng vai trò bổ sung cho quan học, nhưng thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều thì ngược lại: do cục diện biến động, tư học giáo dục trở thành phương thức giáo dục chính, trung tâm học thuật và giáo dục dần chuyển dịch sang tư học.
Thứ ba, giáo dục gia tộc trở thành một vai trò rất quan trọng trong tư học. Do xã hội biến động thường xuyên, môn phiệt sĩ tộc nổi lên mạnh mẽ, để bảo đảm dòng dõi và củng cố địa vị gia tộc, trong bối cảnh quan học suy tàn, giáo dục gia tộc trở thành nhiệm vụ hàng đầu của môn phiệt sĩ tộc. Giáo dục gia tộc bao gồm các nội dung như gia pháp, huấn giới, bồi dưỡng gia phong và kế thừa gia học. Mức độ thịnh hành của gia pháp, huấn giới có thể thấy qua các sách huấn giới xuất hiện đương thời, như thời Tam Quốc, Gia Cát Lượng có Huấn tử thư; thời Lưỡng Tấn, Dương Hỗ có Huấn tử thư, Vương Tường có Huấn tử di lệnh, Kê Khang có Huấn tử thư, Hạ Hầu Trạm có Huynh đệ, Đào Tiềm có Mệnh tử thập chương; thời Nam triều, Lôi Thứ Tông có Dữ tử chất thư, Nhan Diên Chi có Đình hào văn; thời Bắc triều, Nhan Chi Suy có Nhan thị gia huấn, v.v. Những lời huấn giới này cung cấp các chuẩn mực cho hành vi của các thành viên gia tộc. Việc bồi dưỡng gia phong dùng trật tự giáo hóa Nho giáo để giáo dục các thành viên gia tộc, mỗi người giữ đạo mình, mỗi người theo mệnh mình. Việc kế thừa gia học thì dựa trên truyền thống học thuật của gia tộc để giáo dục tài năng cho các thành viên, đây là gốc rễ để môn phiệt sĩ tộc an thân và củng cố địa vị. Nội dung gia học ngoài kinh học Nho gia truyền thống, còn có các môn học mới nổi như Huyền học, Văn học, Thư học, Y học, Sử học, Gia phả học, Phật học, Đạo học, Lịch toán học, Chế tạo học, v.v.
Thứ tư, sự hưng khởi của giáo dục tôn giáo. Phật giáo từ cuối đời Tây Hán đã truyền vào Trung Quốc, nhưng ban đầu do Nho học thịnh hành nên chưa lập tức phổ biến. Từ đời Ngụy Tấn trở đi, sự ràng buộc của Nho học bị phá vỡ, tạo ra không gian cho sự phát triển của giáo dục tôn giáo. Như ta đã biết, Huyền học là ý thức hệ thịnh hành thời Ngụy Tấn. Huyền học, trên cơ sở không trái với đạo nghĩa cơ bản của Nho giáo, lấy tư tưởng Đạo gia làm vỏ ngoài, tinh thần truy cầu của nó cũng khế hợp với tinh yếu của Phật giáo. Do đó, sự thịnh hành của Huyền học như một chất xúc tác thúc đẩy giáo dục Phật giáo phát triển trong thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều. Giáo dục Phật giáo từ giai đoạn truyền bá rải rác ban đầu đến sự phát triển nhanh chóng của giáo dục chùa chiền. Theo thống kê của Đinh Cương trong Trung Quốc Phật giáo giáo dục - Nho Phật Đạo giáo dục so sánh nghiên cứu, "Tây Tấn có 180 ngôi chùa Phật, hơn 3700 tăng ni; Đông Tấn có 1768 ngôi chùa, 2,4 vạn tăng ni; Nam triều Lương có 2846 ngôi chùa, 8,27 vạn tăng ni; Bắc triều Bắc Ngụy có đến hơn 3 vạn ngôi chùa, hơn 200 vạn tăng ni." Đạo giáo là tôn giáo bản địa Trung Quốc, sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Khăn Vàng cuối Đông Hán, Đạo giáo từng có lúc suy giảm, sau đó qua sự cải cách của Cát Hồng, Lục Tu Tĩnh, Đào Hoằng Cảnh, Khấu Khiêm Chi,... kết hợp tu Nho tu Đạo, cũng đáp ứng nhu cầu tinh thần siêu thoát trần tục, phóng đãng, tiêu diêu tự tại của môn phiệt sĩ tộc và giai cấp thống trị. Môn phiệt sĩ tộc, thậm chí giai cấp thống trị đều đắm chìm trong đó, có những đạo sĩ có tầm ảnh hưởng sâu xa thậm chí được nhà vua mời và trực tiếp tham gia hoạch định chính sách. Nam Sử · Đào Hoằng Cảnh truyện chép, Đào Hoằng Cảnh về ẩn ở núi Mao Sơn, mỗi khi trong nước có việc lớn cát hung, chinh phạt, đều đến hỏi ông, trong tháng thường có vài lần thư tín, người đời gọi ông là "Sơn trung tể tướng". Về sự thịnh hành của giáo dục tôn giáo thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, Tống Thư · Di Man truyện còn nói rõ hơn: "Phật đạo từ sau Hán Minh Đế, giáo pháp mới bắt đầu truyền sang phương đông, từ đó về sau, giáo hóa này càng ngày càng rộng, từ vua chúa đến dân thường, không ai không quy phục, kinh điển chất đầy, giáo nghĩa sâu xa, trở thành một nhà học riêng vậy."
C) Giáo Dục Thư Pháp Trong Quan Học
Giáo dục thư pháp trong hệ thống giáo dục quan học thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều được thể hiện qua hình thức chuyên khoa giáo dục mới phát triển lúc bấy giờ - thư học giáo dục. Sự xuất hiện của giáo dục chuyên khoa là một hiện tượng mang tính lịch sử trong bối cảnh giáo dục thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều. So với xã hội nhà Hán thái bình thịnh trị, thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều thay đổi chính quyền liên tục, hình thái giáo dục với nội dung là kinh điển Nho gia có phần mâu thuẫn với nhu cầu nhân tài của xã hội. Nó đáp ứng nhu cầu xã hội về nhiều loại nhân tài chuyên môn kSi nhau. Trong tư học, người ta đã không còn bằng lòng với sự ràng buộc duy nhất của Nho học, nhiều nền giáo dục chuyên môn như Văn học, Sử học, Luật học, Y học, Toán học, Huyền học, Đạo học, Thư học,... đang âm thầm nổi lên. Quan học cũng dần chấp nhận những kiến nghị của người có hiểu biết, bắt đầu mở chuyên khoa giáo dục. Ví dụ như Sùng Văn Quán và Luật học do Ngụy Minh Đế sáng lập, Thư học do Tuân Úc (Tây Tấn) thiết lập, bốn quán Nho, Huyền, Sử, Văn do Tống Văn Đế sáng lập, Tổng Minh Quán với năm khoa Xá đạo, Nho, Văn, Sử, Âm dương do Tống Minh Đế sáng lập, v.v.
Tấn Thư quyển 39, Tuân Úc truyện chép: "(Úc) kiêm nhiệm Bí thư giám, cùng Trung thư lệnh Trương Hoa dựa theo Biệt Lục của Lưu Hướng để chỉnh lý thư tịch. Lại lập Thư Bác sĩ, đặt học trò dạy dỗ, lấy Chung (Doãn), Hồ (Chiêu) làm khuôn mẫu."
Việc Tuân Úc lập Thư Bác sĩ, với ý nghĩa chứng thực bằng sử liệu, đã chứng minh sự tồn tại của giáo dục thư pháp trong quan học thời Tây Tấn. Kết hợp ngữ cảnh, ta có thể thấy mục đích của việc "lập Thư Bác sĩ, lấy Chung, Hồ làm pháp" thực ra xuất phát từ nhu cầu "chỉnh lý thư tịch".
Các chức vụ văn thư kiểu "chỉnh lý thư tịch" thực ra đã có từ xa xưa, vậy tại sao đến thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều mới xuất hiện loại học quan như Thư Bác sĩ? Xem xét bối cảnh lịch sử, có ba chi tiết đáng chú ý:
Thứ nhất, từ thời Thương Chu trở xuống, đời sống xã hội ngày càng phức tạp, sách vở tài liệu cũng dần tăng lên, nhưng so với hậu thế, khối lượng công việc chỉnh lý sao chép sách vở ở giai đoạn lịch sử này tương đối nhỏ. Từ khi nhà Hán độc tôn Nho thuật, khối lượng công việc chủ yếu tập trung vào các kinh tịch Nho gia. Còn từ đời Ngụy Tấn trở đi, nhu cầu xã hội đã phá vỡ rào cản "độc tôn Nho thuật", dưới làn sóng đa học khoa, rất nhiều điển tịch đã xuất hiện cần sao chép và chỉnh lý.
Thứ hai, tiêu chuẩn chữ viết được sử dụng để sao chép và chỉnh lý điển tịch đương nhiên là trên phương diện thực dụng phải công chỉnh, đẹp mắt. Từ cuối đời Hán đến thời Ngụy Tấn, sự xuất hiện của tầng lớp thư pháp gia độc đáo trong xã hội đã cung cấp khuôn mẫu cho yêu cầu viết chữ trong việc sao chép và chỉnh lý điển tịch. Nói cách kSi, khi triều đình cân nhắc về hình thức chữ viết, những khuôn mẫu do các thư pháp gia tạo ra chắc chắn đã cho thấy tính thuận tiện của việc tiết chế (theo chuẩn mực).
Thứ ba, thời Ngụy Tấn, giấy bắt đầu được sử dụng phổ biến. Sự phổ biến của giấy đã thúc đẩy rất nhiều việc phổ cập giảng dạy và học tập thư pháp, và quy mô hóa giáo dục thư pháp ngày càng thúc đẩy nhu cầu về loại học quan này.
Do đó, sự ra đời tất yếu của Thư Bác sĩ trong bối cảnh ba tầng lịch sử đó.
Thời Nam Bắc triều, đặc biệt Bắc triều đang gấp rút phong kiến hóa, vấn đề thiếu nhân tài rất nghiêm trọng, nhu cầu sao chép và chỉnh lý điển tịch thể hiện đặc biệt mạnh mẽ, giáo dục thư pháp trong quan học kế thừa truyền thống Ngụy Tấn, chủ yếu phục vụ mục đích thực dụng.
Nam Tề Thư chép: "Bí thư các nhà Tấn có lệnh sử, coi sóc các loại sách. Xem Tấn Lệnh, cũng đặt lệnh sử, chính thư và đệ tử, đều coi việc dạy nghề thư họa."
Giáo dục thư pháp thời Bắc triều có sự phát triển tiến bộ hơn, xuất hiện trường học như "Thư học".
Tây Ngụy Văn Đế năm Đại Thống thứ 13 (547), tế lễ thánh hiền tại Thư học. Thông Điển cũng ghi rằng Bắc Chu có học sinh Thư học: "Số quan lại, thuộc viên và các chức sắc trong sáu bộ là 21.073 người. (3.989 người là các quan lại các loại, 18.084 người là phủ sử, học sinh, toán sinh, thư sinh... các hạng người v.v.)" Bảo Mông trong Thuật Thư Phú chú dẫn cũng ghi chép về Triệu Văn Thâm, Thư học Bác sĩ thời Bắc Chu: "Triệu Văn Thâm, người Thiên Thủy, đời Hậu Chu làm Thư học Bác sĩ, thư pháp được đời coi trọng." Chu Thư · Ký Tuấn truyện cũng chép: "Lúc đó những người vào học Thư học, cũng hành lễ phu tử (đem lễ vật đến), gọi là lễ tạ ơn."
Có học giả cho rằng giáo dục thư pháp thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều đã bắt đầu thiết lập chế độ giáo dục quan học về thư pháp nhờ việc thiết lập Thư Bác sĩ và thậm chí là Thư học. Bài viết này hoàn toàn không đồng ý, lý do có hai:
Thứ nhất, như đã đề cập ở trên, việc thiết lập Thư Bác sĩ thời Tây Tấn và sự xuất hiện của Thư học thời Nam Bắc triều thực ra xuất phát từ nhu cầu thực dụng về việc chỉnh lý và sao chép điển tịch. Chức năng chính của đệ tử Thư học là chỉnh lý và sao chép điển tịch, điểm này giống với giáo dục thư pháp trong Hồng Đô Môn học thời Hán đến mức nào! Như vậy, thời gian thiết lập chế độ giáo dục quan học về thư pháp chẳng lẽ còn sớm hơn!
Thứ hai, dù giáo dục chuyên khoa thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều có ý nghĩa lịch sử, nhưng thực ra nó vẫn đang ở giai đoạn sơ khởi trong sự phát triển của giáo dục chuyên khoa thời cổ đại Trung Quốc. Nhiều nền giáo dục chuyên môn được lập ra để đối phó tạm thời với nhu cầu xã hội, tính kế thừa của hầu hết các cơ sở giáo dục chuyên khoa cũng không ổn định, và bản thân chúng chưa hình thành thể chế. "Nói một cách chặt chẽ, giáo dục chuyên khoa thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều mới chỉ ở giai đoạn học quan chế độ. Những người cầm quyền của các chính quyền, do nhu cầu phát triển xã hội mà bổ nhiệm học quan cho một bộ môn nào đó, có tính tùy tiện lớn, do đó không thể tiến hành xây dựng khung cấu trúc thể chế giữa học quan và nhà trường." Hơn nữa, địa vị của giáo dục chuyên khoa thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều vẫn không thể sánh với giáo dục Nho học, ảnh hưởng của Nho học vẫn chiếm ưu thế. Chịu ảnh hưởng này, giá trị quan "chí tại đạo, cứ tại đức, y tại nhân, du tại nghệ" đã kìm hãm bước phát triển của giáo dục chuyên khoa. Địa vị của Quốc tử học và Thái học vượt xa các nền giáo dục chuyên khoa. Học quan trong giáo dục chuyên khoa thường có cấp bậc và phẩm hàm thấp hơn học quan Nho học. Lấy Bắc Ngụy làm ví dụ, trong bảng quan chức ban hành năm Thái Hòa thứ 17 (493) thời Hiếu Văn Đế, Thái sử Bác sĩ, Luật Bác sĩ thuộc hàng lục phẩm trung, cùng hàng với Thái học Bác sĩ, nhưng thấp hơn Quốc tử Bác sĩ và Hoàng tông Bác sĩ. Sáu năm sau, Tuyên Vũ Đế sửa đổi bảng quan phẩm, Thái học Bác sĩ giảm xuống thất phẩm, Luật Bác sĩ giảm xuống cửu phẩm. Đáng chú ý là trong số các học quan chuyên khoa, chỉ có Luật Bác sĩ được liệt vào danh sách quan phẩm, còn các học quan kSi đều bị bỏ qua.
Thử hỏi, Thư học Bác sĩ thậm chí còn chưa được đưa vào danh sách quan phẩm, thì làm sao có thể coi là sự thiết lập chế độ giáo dục quan học về thư pháp thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều?
D) Giáo Dục Thư Pháp Trong Tư Học
Dưới bốn đặc điểm của tư học thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, giáo dục thư pháp được thể hiện như thế nào?
(1) Mông học - Giáo Dục Thư Pháp Trong Trường Học Cho Trẻ Nhỏ
Giáo dục khai mông cho trẻ em trong xã hội cổ đại thường do gia đình đảm nhận, thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều cũng vậy. Những gia đình hoặc gia tộc có điều kiện đều tiến hành giáo dục khai mông cho con cái từ nhỏ. Giáo dục khai mông đương nhiên bắt đầu từ việc nhận biết chữ và tập viết, trong đó đã có sự xuất hiện của giáo dục thư pháp. Đồng thời, các sách vỡ lòng dùng cho giáo dục khai mông đóng vai trò làm khuôn mẫu trong giáo dục thư pháp cũng là điều hiển nhiên. Những cuốn sách vỡ lòng vừa làm giáo trình dạy nhận biết chữ, vừa làm giáo trình dạy viết chữ. Do đó, những cuốn sách như Cấp Tựu Chương đã lưu truyền từ thời Hán, đến thời Ngụy Tấn đã có các bản viết tay của các thư pháp gia như Chung Diêu, Hoàng Tượng, Vệ phu nhân, Vương Hi Chi, Sách Tĩnh,... Từ cuối đời Hán khi các thư pháp gia xuất hiện, đến việc các bản viết tay sách vỡ lòng của các thư pháp gia thời Ngụy Tấn lưu hành, ít nhất đã truyền cho chúng ta thông điệp rằng: ý nghĩa làm khuôn mẫu thư pháp của các sách vỡ lòng trong giáo dục nhi đồng là tồn tại kSih quan, tuy nhiên sử liệu không có ghi chép chi tiết về điểm này. Theo Tùy Thư · Kinh Tịch Chí quyển 2, sách vỡ lòng thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều ngoài việc tiếp tục sử dụng Cấp Tựu Chương đời Hán, còn phong phú hơn, như thời kỳ này đã xuất hiện các sách giáo khoa như Tiểu Học Thiên, Thủy Học, Thiếu Học, Phát Mông Ký, Khải Mông Ký, Huấn Tục Văn Tự Lược, Thiên Tự Văn, Khai Mông Yếu Huấn,... Những sách giáo khoa này được lưu truyền hoàn toàn bằng tay trong thời điểm kỹ thuật in ấn chưa xuất hiện, và trong số những người sao chép không thiếu những thư pháp gia nổi tiếng. Thiên Tự Văn là sách giáo khoa có ảnh hưởng lớn nhất đối với đời Nam triều và các thời đại sau. Thực ra, Thiên Tự Văn đã lưu hành từ cuối đời Hán đầu đời Ngụy. Đời Nam triều, Lương Vũ Đế sai Chu Hưng Tự làm lại. Lịch sự Thượng Thư Cố Thực đời Đường chép: "Thiên Tự Văn, do Chu Hưng Tự đời Lương biên soạn, mà có bản do Vương Hữu quân (Vương Hi Chi) viết, mọi người không hiểu. Khởi đầu là do Lương Vũ Đế dạy các vương viết chữ, sai Ân Thiết Thạch lấy trong sách của Vương Đại linh (Vương Hi Chi) một nghìn chữ kSi nhau, mỗi chữ viết một tờ, lộn xộn không có thứ tự. Vũ Đế gọi Hưng Tự đến và nói: 'Khanh có tài văn tư, hãy vì trẫm mà sắp xếp lại.' Hưng Tự chỉ một đêm biên soạn dâng lên, tóc mai bạc trắng, được ban thưởng rất hậu. Cháu nội của Hữu quân là Thiền sư Trí Vĩnh tự lâm mô tám trăm bản, phân phát cho nhân gian, các chùa ở Giang Nam mỗi chùa giữ một bản."
Việc Lương Vũ Đế dạy các vương viết chữ, sai người lấy trong thư pháp của Vương Hi Chi một nghìn chữ kSi nhau để làm bản mẫu, bản thân việc này đã chứng minh ý nghĩa làm khuôn mẫu thư pháp quan trọng của sách vỡ lòng. Trí Vĩnh tự lâm mô Thiên Tự Văn tám trăm bản, mỗi chùa ở Giang Nam giữ một bản, mục đích là làm khuôn mẫu cho các kinh sinh (người sao chép kinh Phật), đây đã thuộc về giáo dục thư pháp trong giáo dục tôn giáo.
(2) Giáo Dục Thư Pháp Trong Giáo Dục Tôn Giáo
Giáo dục thư pháp trong giáo dục tôn giáo, đặc biệt là giáo dục Phật giáo, được thể hiện qua sự thịnh hành của kinh thư (viết kinh Phật). Thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, chiến tranh liên miên mang đến đau khổ tột cùng cho cuộc sống của người dân. Phật giáo, vốn có thể đem lại niềm an ủi tinh thần, đã trở thành phương tiện xoa dịu vết thương lòng cho con người. Các nhà cầm quyền cũng lợi dụng Phật giáo để ổn định xã hội, vì vậy không tiếc công sức tuyên truyền Phật giáo, xây dựng chùa chiền, cúng dường tăng ni. Đông Tấn Hiếu Vũ Đế từng "dựng tịnh xá trong cung điện, mời các sa môn vào ở." Môn phiệt sĩ tộc cũng cực lực tôn sùng. Theo Tống Thư · Dật Dân truyện, Chu Tục Chi ở nhà đọc Lão, Dịch, lên núi Lư Sơn theo sự thờ Sa môn Thích Tuệ Viễn. Lương Thư · Văn Học truyện hạ chép, Lưu Hiệp chí hướng hiếu học, nhà nghèo không cưới vợ, theo Sa môn Tăng Hữu, ở cùng ông hơn mười năm, do đó thông suốt kinh điển. Để tuyên truyền Phật giáo, việc lưu truyền kinh quyển trở nên cần thiết, vì vậy sao chép kinh quyển trở thành phương thức tất yếu và công khóa hàng ngày để tuyên dương Phật giáo. Những người viết kinh thường gồm các tín đồ, tăng ni và các kinh sinh chuyên nghiệp. Học thức và tu dưỡng của họ kSi nhau, trình độ thư pháp cũng cao thấp kSi nhau, nhưng nhìn chung, từ từng nét chữ, ta vẫn có thể nhận ra thái độ thành kính của người viết kinh đối với Phật giáo. Trong các bản kinh Đôn Hoàng, chúng ta còn có thể phát hiện những dấu vết cho thấy kinh sinh trước khi sao chép kinh quyển đã luyện tập trước rồi mới viết chính thức. Ví dụ: Mặt sau bản kinh Đôn Hoàng số S.1522 - Niết Bàn Kinh Nan Tự Sao, tập hợp các chữ khó và hiếm về hình dáng và nghĩa trong các bản kinh, mang tính chất nhận biết và sửa chữa chữ. Kinh sinh thường luyện tập trước cho cổ tay thuần thục, rồi mới tiến hành sao chép chính thức trang trọng.
Ngoài ra, có thể thấy rõ dấu vết giảng dạy thư pháp trong các kinh sinh, như trong các bản kinh Đôn Hoàng có bản lâm mô Phật Thuyết Địa Tạng Bồ Tát Kinh, mỗi chữ đầu dòng viết một hàng, khoảng hai mươi chữ, nét chữ cân đối, kích thước đều nhau, từng chữ xếp hàng ngay ngắn, rất cẩn thận.
Đồng thời, các kinh sinh cũng rất coi trọng trình độ thư pháp viết kinh, tự hào về chữ đẹp và xấu hổ về chữ xấu. Bản Tát Bà A Tư Bà Địa Thập Tỉ Giới Bản viết vào năm 405, xét về trình độ thư pháp vốn đã rất đẹp, nhưng người sao chép vẫn khiêm tốn viết ở cuối: "Đến mùa hạ an cư viết xong giới văn, chỉ là thành chữ mà thôi. Tay thô lấy làm hổ thẹn, người xem chỉ nên hiểu ý, đừng cười chữ của tôi." Cuối bản Phật Dịch Kinh cũng có lời tương tự: "Năm Thái An thứ nhất (455) tháng giêng ngày 19 viết, tỳ kheo Thân Tông ở chùa Nam Y Ngô, tay thô, người ta khó kiếm được giấy mực."
(3) Gia Học Và Sư Thụ - Giáo Dục Thư Pháp Trong Gia Đình Và Sự Truyền Thụ
Về gia học và sư thụ trong thư pháp, đương nhiên gồm hai mặt: một là gia học, hai là sư thụ. Sư thụ có thể chia làm hai trường hợp: một là sự truyền thụ hoặc trao đổi trực tiếp giữa những người cùng thời đại, hai là sự học tập và bắt chước các bậc tiền hiền của đời trước. Trường hợp thứ nhất có thể hiểu được; trường hợp thứ hai tuy người trước và người sau không có quan hệ truyền thụ có mục đích chủ quan, chỉ để lại tác phẩm, nhưng trên thực tế, việc người sau học người trước đã tồn tại quan hệ giáo dục thực tế. Vì vậy, tôi xem trường hợp này cũng nên được coi là một hình thức quan trọng của sư thụ, và là hình thức phổ biến, bởi vì trong sự kế thừa và học tập thư pháp, phần lớn mọi người đều lấy những thư pháp gia không cùng thời đại với mình làm đối tượng học tập. Gia học là chỉ việc trong một gia đình hoặc gia tộc, mọi người có chung sở thích thư pháp và truyền lại loại hình nghệ thuật này qua các thế hệ. Trước hết, nó thể hiện ở không khí và phong cách học tập thư pháp trong gia đình hoặc gia tộc. Các hình thức giáo dục trong đó bao gồm hai trường hợp cơ bản của sư thụ: một là sự truyền thụ từ bậc trưởng bối cho hậu bối, hai là sự học tập và bắt chước các bậc tiền hiền.
Các môn phiệt sĩ tộc thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, để củng cố và duy trì địa vị gia tộc, rất coi trọng việc phát triển gia học. Ngoài Nho học truyền thống, nhiều gia tộc cao quý cũng chọn một số môn học mới nổi đương thời để đầu tư khai tSi, cố gắng nổi trội. Nghệ thuật thư pháp từ cuối đời Hán đến thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, với tư cách là kỹ nghệ viết chữ, đã được các văn nhân sĩ đại phu coi trọng chưa từng có. Ngoài triện và lệ, các loại hình thư thể mới như hành, thảo, khải dần được tầng lớp sĩ tộc tiếp nhận, hình thành phong cách thư pháp mới từ đời Ngụy Tấn, và với tư cách là một vai trò xã hội, các thư pháp gia được người đời kính trọng, bậc thánh thủ như mây, các sĩ tộc thư pháp gia dẫn dắt làn sóng thư pháp. Trong bối cảnh đó, thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều lần lượt xuất hiện các gia tộc thư pháp thế gia - một hình thái kế thừa gia học, trong đó đặc biệt thịnh vào đời Đông Tấn. Các gia tộc thư pháp đã xuất hiện từ cuối Đông Hán, như cha con Thôi Viện, Thôi Thực và anh em Trương Chi, Trương Xưởng. Đến thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều thì càng thịnh hành. Trong số đó, các gia tộc nổi tiếng như: Hà Đông Vệ thị, Kinh Triệu Vi thị, Lang Da Vương thị, Dĩnh Xuyên Dữu thị, Cao Bình Si thị, Trần Quận Tạ thị, Thái Nguyên Vương thị, Giang Hạ Lý thị, Ngô Quận Trương thị, Thanh Hà Thôi thị, Phạm Dương Lô thị, Lang Da Nhan thị, Trần Lưu Giang thị, v.v. đều có ảnh hưởng khá lớn trong xã hội.
Hà Đông Vệ thị (河东卫氏): Vào thời Tào Ngụy và Tây Tấn, họ Vệ là một dòng họ Nho học danh giá ở An Ấp, Hà Đông (nay là Hạ huyện, Sơn Tây). Theo Tấn Thư quyển 36, Vệ Quán truyện, họ Vệ nguyên quán ở Đại Quận (nay là Dương Cao, Sơn Tây). Vào thời Đông Hán Minh Đế, Vệ Tung nhờ giỏi Nho học được triều đình triệu mời, trên đường đến Lạc Dương thì mất ở An Ấp, Hà Đông. Triều đình ban cho đất nơi ông mất để chôn cất, gia quyến bèn định cư tại đó. Cuối đời Đông Hán, cháu nội của Vệ Tung là Vệ Ký được Tào Tháo trọng dụng, họ Vệ bắt đầu chuyển sang thịnh vượng.
Vệ Ký (?–229), tự Bá Nhu, từ trẻ đã nổi tiếng nhờ tài học. Khi Tào Tháo làm Ngụy vương, Vệ Ký cùng Vương Xán cùng coi việc chế độ. Dưới hai triều Văn Đế và Minh Đế nhà Tào Ngụy, ông lần lượt được phong đình hầu, hương hầu, nắm giữ lễ nghi triều đình và thư tịch văn sử. Gia tộc họ Vệ ban đầu lấy Nho học làm gia truyền, nhưng nổi tiếng về thư pháp bắt đầu từ Vệ Ký. Tam Quốc Chí · Vệ Ký truyện chép: "Ông ưa thích cổ văn, điểu triện, lệ thảo, không thứ nào không giỏi." Vệ Hằng trong Tứ Thể Thư Thế cũng nhắc đến ông nội mình là Vệ Ký: "Thời Ngụy đầu tiên, những người truyền bá cổ văn đều xuất thân từ Hàm Đan Thuần. Tổ Vệ Kính Hầu (Vệ Ký) đã sao chép Thượng Thư của Thuần, sau khi đưa cho Thuần xem, Thuần không thể phân biệt được." Giang Thức trong Luận Thư Biểu cũng ghi: "Kinh Triệu Vi Đản, Hà Đông Vệ Ký hai nhà, đều được gọi là giỏi triện." Về thảo thư, Dương Hân trong Cổ Kim Lai Năng Thư Nhân Danh nói: "Hà Đông Vệ Ký, tự Bá Nhu, Thượng thư bộ xạ nhà Ngụy, giỏi thảo và cổ văn, gần như tận diệu. Chữ thảo hơi gầy, nhưng nét bút tinh thục."
Vệ Ký có ba con trai, trong đó người nổi tiếng nhất về thư pháp là trưởng tử Vệ Quán (220–291). Vệ Quán mồ côi cha năm mười tuổi, hai mươi tuổi ra làm quan, đến thời Tây Tấn Vũ Đế, giữ chức Tư không, tổng lãm triều chính. Sau khi Huệ Đế kế vị, ông cùng Nhữ Nam vương Tư Mã Lượng phụ chính, địa vị tột bậc. Vệ Quán giỏi thảo thư, "lấy pháp của Trương Chi, tham gia pháp của Vệ Ký, viết thảo lệ" (lối thảo mới). Tấn Thư · Vệ Quán truyện chép: "Quán học vấn sâu rộng, thông hiểu văn nghệ, cùng Thượng thư lang Đôn Hoàng Sách Tĩnh đều giỏi thảo thư, người đời gọi là 'nhất đài nhị diệu'. Cuối đời Hán, Trương Chi cũng giỏi thảo thư, người bàn cho rằng Quán được cái 'cân' của Bá Anh (Trương Chi), còn Sách Tĩnh được cái 'thịt'."
Vệ Quán có sáu con trai, trong đó những người nổi tiếng về thư pháp, theo Thư Đoạn của Trương Hoài Quán, có con trai thứ hai Vệ Hằng, con trai thứ tư Vệ Tuyên, con trai thứ năm Vệ Đình, nhưng Vệ Hằng là xuất sắc nhất. Vệ Hằng là tác giả của Tứ Thể Thư Thế, một luận văn thư pháp quan trọng thời Tây Tấn.
Theo Thư Đoạn của Trương Hoài Quán: "Các con của Hằng là Quán và Khuê đều có tiếng về thư pháp." Như vậy, các con trai của Vệ Hằng là Vệ Quán và Vệ Khuê đều giỏi thư pháp, nhưng sử liệu không ghi chép chi tiết hơn.
Hà Đông Vệ thị còn có một nhánh là Vệ Liệt. Thế Thuyết Tân Ngữ · Kiệm lận đệ nhị thập cửu mục "Vệ Giang Châu" dẫn Vĩnh Gia Lưu Nhân Danh có chép: "Vệ Triển, tự Đạo Thư, người An Ấp, Hà Đông. Ông nội là Liệt, Từ thành Hộ quân. Cha là Thiệu, Quảng Bình lệnh. Triển, đầu niên hiệu Quang Hy được trừ chức Ưng Dương tướng quân, Giang Châu thứ sử." Vệ Triển là ai? Tấn Thư · Vệ Quán truyện sau đó phụ thêm tiểu sử Vệ Triển. Từ đó ta biết Vệ Triển là em họ của Vệ Hằng, Vệ Triển có một người em gái tên là Vệ Thước (272–349). Vệ Thước chính là Vệ phu nhân nổi tiếng trong lịch sử thư pháp, thầy dạy viết chữ cho Vương Hi Chi. Bà gả cho Lý Củ ở Giang Hạ, và họ Lý ở Giang Hạ cũng là gia tộc lớn có truyền thống thư pháp.
Kinh Triệu Vi thị (京兆韦氏): Họ Vi ở Kinh Triệu (nay là Tây An, Thiểm Tây) là một gia tộc thư pháp cũ đời Hán Ngụy. Giang Thức trong Luận Thư Biểu cũng xếp họ Vi ở Kinh Triệu và họ Vệ ở Hà Đông ngang hàng: "Kinh Triệu Vi Đản, Hà Đông Vệ Ký hai nhà, đều được gọi là giỏi triện. Bảng hiệu trên các lầu quán, tên trên các bảo khí đương thời, đều là chữ họ Vi viết. Truyền cho con cháu, đời đời khen hay."
Con cháu họ Vi cũng có người giỏi thư pháp. Thái Bình Ngự Lãm quyển 748 dẫn Thư Đoạn chép: "Đời Tấn, Vi Xưởng tự Văn Hưu, niên hiệu Thái Nguyên (376–396), Hiếu Vũ Đế sửa sang cung điện và các cửa miếu, muốn Vương Hiến Chi viết chữ lệ đề bảng, Hiến Chi cố từ, bèn sai Lưu Quỳ viết chữ bát phân, sau lại sai Văn Hưu viết chữ đại triện để thay đổi." Qua đó ta biết, là hậu nhân của Vi Đản, Vi Xưởng cũng giỏi đại triện và cũng giỏi đề bảng.
Lang Da Vương thị (琅琊王氏): Họ Vương ở Lang Da là gia tộc thư pháp đệ nhất dưới chính trị môn phiệt thời Ngụy Tấn. Họ Vương ở Lang Da bắt đầu trở thành danh tộc vào thời Ngụy Tấn với hai anh em Vương Tường và Vương Lãm. Trở thành gia tộc thư pháp thì bắt đầu từ Vương Dị (276–322) và Vương Đạo (276–339), cả hai đều là cháu nội của Vương Lãm.
Vương Dị: "từ nhỏ có thể làm văn, thông hiểu nhiều thứ, giỏi thư họa, thạo âm nhạc, bắn cung, cưỡi ngựa, đánh cờ, tạp kỹ."
Vương Đạo là anh họ của Vương Dị. Dương Hân trong Cổ Kim Lai Năng Thư Nhân Danh nói ông giỏi thảo cảo và hành thư. Về sau, dường như người ta cho rằng Vương Dị giỏi hơn Vương Đạo. Vương Tăng Kiền trong Luận Thư nói: "Vương Bình Nam Hối là chú của Hữu quân (Vương Hi Chi), từ khi qua Giang Đông, trước Hữu quân, chỉ có Hối là xuất sắc nhất. Hội họa làm thầy cho Minh Đế, thư pháp làm pháp cho Hữu quân." Trương Ngạn Viễn trong Lịch Đại Danh Họa Ký cũng nói: "Giỏi thư họa, sau khi qua Giang Đông, trở thành đệ nhất thư họa nhà Tấn."
Vương Dị theo học thư pháp chủ yếu với Chung Diêu. Dương Hân trong Cổ Kim Lai Năng Thư Nhân Danh chép: "Vương Dị, Lang Da, Tấn Bình Nam tướng quân, Kinh Châu thứ sử, giỏi chương khải, giữ vững phép Chung." Vương Đạo theo học thư pháp, theo Vương Tăng Kiền trong Luận Thư: "có pháp khải rất tốt, lấy Chung và Vệ làm thầy."
Sau Vương Dị và Vương Đạo, con cháu họ Vương giỏi thư pháp rất nhiều. Đến Vương Hi Chi và Vương Hiến Chi, họ đã phát triển phong cách thư pháp của Chung và Vệ, đưa phong cách thư pháp họ Vương trưởng thành.
Vương Hi Chi: Ông nội là Vương Chính, cha là Vương Khoáng, chú là Vương Dị. Năm 11 tuổi, Vương Hi Chi theo chú Vương Dị sang nam, đến Kiến Khang. Năm 13 tuổi, ông bái kiến danh sĩ Chu Ngung, "Ngung thấy ông, lấy làm lạ." Khi trưởng thành, "biện tài xuất chúng, nổi tiếng là cương trực." Thư pháp của ông vượt trội, được các bá là Vương Đôn và Vương Đạo coi trọng. Vương Hi Chi học thư pháp từ Vệ phu nhân khi nhỏ, sau theo chú Vương Dị, rồi theo Chung Diêu và Trương Chi.
Vương Hi Chi có bảy con trai một con gái, trong đó nhiều người giỏi thư pháp. Con trai thứ bảy là Vương Hiến Chi xuất sắc nhất, có thể sánh ngang với cha. Vương Hiến Chi "nhỏ học với cha, sau học với Trương (Chi), rồi thay đổi phép tắc, sáng tạo ra lối riêng."
Hai cha con Hi Chi – Hiến Chi thuộc nhánh Vương Chính. Ở nhánh kSi là Vương Tài, người nổi tiếng về thư pháp nhất là Vương Hiệp (323–358), cùng thế hệ với Vương Hi Chi, tiếp theo là Vương Tuần (349–400) và Vương Quản (351–388) cùng thế hệ với Vương Hiến Chi.
Vào Nam Bắc triều, gia học thư pháp của họ Vương Lang Da vẫn kế tục đông đảo: đời Tống có Vương Hoằng, Vương Đàm Thủ, Vương Vi; đời Tề có Vương Tăng Kiền, Vương Từ, Vương Kiệm, Vương Tăng Hữu, Vương Tịch; đời Lương có Vương Chí, Vương Bân, Vương Quân; đời Trần có cháu nội bảy đời của Vương Hi Chi là Trí Vĩnh.
Dĩnh Xuyên Dữu thị (颍川庾氏): Dữu thị Dĩnh Xuyên nổi danh từ đời Ngụy Tấn, đạt thời kỳ thịnh vượng nhất vào đầu Đông Tấn dưới các triều Minh Đế, Thành Đế, Khang Đế. Đại diện cho gia học thư pháp của Dữu thị là Dữu Lượng (289–340), giỏi hành thư, thảo thư. Dữu Dực (305–345), giỏi khải thư, hành thư, thông thảo thư, người bình luận cho rằng "thời đó ngang hàng với Vương Hi Chi." Dữu Soái trong Luận Thư Biểu đã ghi lại một câu chuyện về quan hệ thư pháp giữa hai anh em Dữu thị và Vương Hiến Chi, đủ chứng tỏ thành tựu thư pháp của hai anh em Dữu thị khi đó. Bài viết như sau: "Thư pháp của Vương Hi Chi, lúc ban đầu chưa có gì đặc biệt xuất sắc, chưa hơn được Dữu Dực và Si Âm. Đến cuối đời, mới đạt đến tột đỉnh. Ông từng dùng thảo thư trả lời thư cho Dữu Lượng. Lượng đưa cho Dực xem, Dực cảm phục, bèn viết thư cho Vương Hi Chi rằng: 'Ta trước đây có mười tờ giấy chương thảo của Bá Anh (Trương Chi), khi qua sông mất, thường đau đớn vì tuyệt tác không còn. Bỗng nhiên thấy được lá thư của ngài trả lời anh tôi, sáng ngời như thần minh, khiến tôi như trở lại cảnh xưa.'"
Cao Bình Si thị (高平郗氏): Si thị từ một hào tộc địa phương trở thành danh môn bắt đầu từ Si Giám (269–339). Ban đầu Si Giám không hòa hợp với Vương Đạo, người đứng đầu danh môn đệ nhất Lang Da Vương thị. Đến thời Minh Đế, quan hệ giữa họ Si và họ Vương dần trở nên gần gũi, thậm chí thông gia.
Cao Bình Si thị trở thành gia tộc thư pháp cũng bắt đầu từ Si Giám. Đậu Cần trong Thuật Thư Phú thượng chép: "Đạo Huy (Si Giám) phong phú hoành lệ, khi hạ bút thì quyết đoán không vướng, khi vung bút thì đậm đà sâu lắng, như người đánh cá thuận dòng." Trương Hoài Quán trong Thư Đoạn chép: "(Si Giám) thảo thư tuyệt luân, cổ mà mạnh."
Người có danh tiếng thư pháp nhất họ Si là Si Âm (313–384). Thuật Thư Phú thượng chép: "Hồi (Si Âm, tự Phương Hồi) thì chương thảo mạnh mẽ, nét chữ thanh thoát, như băng sắc chảy, mây tuôn rồng bay." Thư Đoạn chép: "(Si Âm) đặc biệt giỏi chương thảo, đậm nhạt vừa phải, ý tưởng vô cùng, gân cốt cũng hơn người."
Si thị còn có Si Đàm, Si Siêu, Si Khôi đều giỏi thư pháp.
Trần Quận Tạ thị (陈郡谢氏): Trần Quận Tạ thị trải qua nhiều thế hệ phát triển, cuối cùng đã trở thành danh môn trọng tộc vào triều Hiếu Vũ Đế thời Đông Tấn. Trong gia tộc họ Tạ, những người giỏi thư pháp, Đậu Cần Thuật Thư Phú thượng nhắc đến ba người, lần lượt là Tạ Thượng, Tạ Dịch, Tạ An: "Ba anh em họ Tạ, Tạ Thượng giỏi thảo đặc biệt, như dòng tSi đổ xuống, mũi dao vào da bò. Gặp Sĩ Dật, mới đẩy lui vô Ích (Tạ Dịch), bút mực vân hà, tùy hứng mà viết. Năng lực sang trọng, cuối cùng thuộc về An Thạch (Tạ An)." Thư Đoạn lại chép: "(Tạ An) em là Vạn (320–361), tự Vạn Thạch, cũng giỏi thư pháp."
Thái Nguyên Vương thị (太原王氏): Thái Nguyên Vương thị xét về nguồn gốc thì cùng tông với Lang Da Vương thị. Thái Nguyên Vương thị trở thành hiển tộc bắt đầu từ Vương Xưởng thời Tào Ngụy. Đời Đông Tấn, trong họ Vương Thái Nguyên có những người giỏi thư pháp như Vương Thuật, Vương Mông, Vương Tu. Vương Thuật (303–368), cùng tuổi với Vương Hi Chi, "từ nhỏ có danh tiếng, ngang hàng với Vương Hi Chi", nhưng thực tế danh tiếng thư pháp không bằng Vương Hi Chi. Các tài liệu thư pháp đời Nam triều hầu như không nhắc đến Vương Thuật, nhưng tác phẩm vẫn lưu truyền. Đậu Cần và Đậu Mông đời Đường trong Thuật Thư Phú tịnh chú ghi nhận phong cách của ông là "nhanh, sắc, mỏng, liên tục mà nghiêng, như chim tránh lưới nghiêng cánh, nước chảy đá ngăn bổ ngang." Vương Mông và Vương Tu là cha con. Dương Hân trong Cổ Kim Lai Năng Thư Nhân Danh chép, Vương Mông "giỏi thảo, lệ." Con là Tu, giữ chức Lang Da Vương văn học, giỏi lệ, hành, cùng Vương Hi Chi thân thiện, nên thư pháp rất tinh diệu. Chết trẻ, chưa trọn vẹn. Con Tử Kính (Vương Hiến Chi) mỗi khi xem thư của Tu đều nói: "Dọa người quá!"
Giang Hạ Lý thị (江夏李氏): Dòng họ Lý ở Giang Hạ thời Ngụy Tấn vừa có nghĩa sĩ dũng cảm, vừa có cao nhân ẩn dật. Vào giao thời Lưỡng Tấn, Giang Hạ Lý thị cũng trở thành một gia tộc thư pháp. Các thư pháp gia nổi tiếng lần lượt thuộc hai nhánh Lý Trọng và Lý Củ (anh em). Con trai Lý Trọng là Lý Thức (275–328). Dương Hân trong Cổ Kim Lai Năng Thư Nhân Danh chép: "Lý Thức Giang Hạ, Thị trung nhà Tấn, giỏi viết lệ và thảo. Em là Định, em họ là Công Phủ, có tiếng tăm như Thức." Qua đó cho thấy ba anh em họ Lý Thức đều nổi tiếng về thư pháp. Con trai Lý Củ là Lý Sung (?–362?), em họ của Lý Thức, văn sĩ nổi tiếng Đông Tấn, cũng giỏi thư pháp, mẹ ông là Vệ phu nhân.
Ngô Quận Trương thị (吴郡张氏): Họ Trương ở Ngô Quận là danh môn ở Giang Nam. Thế Thuyết Tân Ngữ · Tán Dự đệ bát chú dẫn Ngô Lục Sĩ Lâm chép: "Cố, Lục, Chu, Trương là bốn họ lớn ở Ngô Quận. Trong thời Tam Quốc, bốn họ đều thịnh vượng." Phong cách của bốn họ kSi nhau: "Trương văn, Chu võ, Lục trung, Cố hậu." Trong số đó, người đầu tiên trong gia tộc Trương thị lấy văn làm gia phong, giỏi thư pháp là Trương Hoằng thời Đông Ngô: "Người này đặc biệt giỏi phi bạch, những người biết viết chữ ít ai không ưa." Trương Hoằng ham học không ra làm quan, thường đội khăn đen, người đời gọi là "Trương Ô Cân". Trương Hoài Quán trong Thư Đoạn trung chép: "Cũng giỏi triện và lệ, phi bạch của ông tuyệt diệu đương thời, bay bổng như mây, mạnh như điện giật, có thần thái như tiên múa hạc. Tự làm Phi Bạch Tự Thế, miêu tả hết vẻ đẹp đó."
Danh sĩ Tây Tấn Trương Hàn cũng xuất thân từ Ngô Quận Trương thị. Thuật Thư Phú thượng chép: "Quý Ưng (Trương Hàn) có tiếng, dung mạo cổ kính, tuy không có chứng nghiệm nổi tiếng, nhưng dựa vào Trương (Chi) và Sách (Tĩnh), như mây đen ngưng tụ, cánh chim buông xuôi."
Sự kế thừa gia học thư pháp của Ngô Quận Trương thị sau Lưỡng Tấn còn có Trương Trừng, Trương Bành Tổ, Trương Dụ, Trương Vĩnh, Trương Sướng, Trương Dung, v.v.
Thái Sơn Dương thị (泰山羊氏): Dương thị Thái Sơn cũng là danh môn đời Hán Ngụy. Ngay từ thời Đông Hán, họ Thái ở Trần Lưu đã kết thông gia với họ Dương ở Thái Sơn. Tấn Thư · Dương Hỗ truyện chép: "Hỗ là cháu ngoại của Thái Ung." Thái Ung là văn học gia, thư pháp gia nổi tiếng đời Đông Hán, Dương Hỗ đương nhiên được ảnh hưởng. Dữu Khuân Ngô trong Thư Phẩm chép thư pháp của Dương Hỗ "mỗi khi viết đều thành khuôn mẫu, gần bằng tiền bối, hiếm thấy ở hậu sinh." Sau Dương Hỗ, cháu họ là Dương Thầm cũng giỏi thư pháp. Thế Thuyết Tân Ngữ · Xảo Nghệ đệ nhị thập nhất mục "Dương Trường Hòa" chép: "Dương Trường Hòa (Thầm) bác học giỏi thư, thạo cưỡi ngựa bắn cung, giỏi cờ vây. Các con cháu Dương về sau phần nhiều biết thư pháp, mà các môn xạ, cờ không ai bì kịp." Lưu Hiếu Tiêu chú dẫn Văn Tự Chí nói: "Thầm có năng khiếu thảo thư, cũng giỏi hành lệ, được tiếng tăm một thời." Sau Dương Thầm có Dương Cố, Dương Hân, v.v. Trong đó, Dương Hân có ảnh hưởng lớn nhất. Tống Thư · Dương Hân truyện chép: "(Hân) nói cười đẹp đẽ, dung chỉ tốt, đọc nhiều kinh sách, đặc biệt giỏi lệ thư. Nghi (cha Dương Hân) lần đầu làm Ô Trình lệnh, Hân khi đó mười hai tuổi. Vương Hiến Chi làm Ngô Hưng Thái thú, rất yêu quý ông. Một mùa hè, Hiến Chi đến huyện, Hân mặc áo lụa mới đang ngủ trưa, Hiến Chi viết vài dòng lên áo rồi đi. Hân vốn giỏi thư pháp, từ đó càng giỏi hơn."
Thanh Hà Thôi thị (清河崔氏): Thôi thị Thanh Hà là gia tộc thư pháp nổi tiếng đời Bắc Ngụy. Trước khi vào Ngụy, họ Thôi đã nhờ danh môn mà coi thư pháp là gia học. Thôi Ngu là người khởi đầu cho Thanh Hà Thôi thị trở thành gia tộc thư pháp. Ông nội bốn đời của Thôi Ngu là Thôi Lâm, thời Tào Ngụy giữ chức Tư không. Từ Thôi Ngu truyền cho con Thôi Tiềm, đến thời Bắc Ngụy, Thôi Huyền Bá và Thôi Hạo cha con đã phát dương quang đại gia học thư pháp. Ngụy Thư · Thôi Huyền Bá truyện chép: "Ông nội Huyền Bá là Thôi Ngu và Phạm Dương Lô Sâm, đều nổi tiếng nhờ bác nghệ. Thôi Ngu bắt chước Chung Diêu, Lô Sâm bắt chước Vệ Ký, và cả hai đều học thảo thư của Sách Tĩnh, đều đạt đến tinh diệu. Thôi Ngu truyền cho con Thôi Tiềm, Tiềm truyền cho con (Thôi Hoành). Lô Sâm truyền cho con Lô Sâm, Sâm truyền cho con (Lô Dật). Của cải không bao giờ dứt. Vì vậy, đầu đời Ngụy, người ta coi trọng thư pháp của họ Thôi và họ Lô." Lại có Huyền Bá "đặc biệt giỏi thảo lệ và hành khoát, được thế giới bắt chước... Hành khoát của Huyền Bá, tinh xảo đặc biệt."
Con trai cả của Thôi Huyền Bá là Thôi Hạo cũng giỏi thư pháp. Ngụy Thư · Thôi Hạo truyện chép: "Hạo vốn giỏi thư pháp, nhiều người nhờ ông viết Cấp Tựu Chương. Từ nhỏ đến già, không lúc nào rời bút. Viết đến hàng trăm bản, đều phải ghi 'Phùng Đại Cường' để tỏ ý không dám phạm đến quốc hiệu. Ông cẩn thận là như vậy. Thể chữ của Hạo theo người trước, nhưng sự khéo léo không bằng. Người đời quý bút tích của ông, thường cắt ghép nối liền, để làm khuôn mẫu."
Phạm Dương Lô thị (范阳卢氏): Lô thị Phạm Dương cũng là gia tộc thư pháp nổi tiếng đời Bắc Ngụy, ngang hàng với Thanh Hà Thôi thị. Trước khi vào Ngụy, họ đã sớm trở thành gia tộc thư pháp. Phạm Dương Lô thị trở thành gia tộc thư pháp bắt đầu từ Lô Chí, từ Lô Chí đến Lô Sâm, đến Lô Tiềm, rồi đến Lô Dật, cho đến đời Bắc Ngụy là Lô Huyền và Lô Uyên (cháu nội). Lô Sâm (284–350) cùng thế hệ với Thôi Ngu. Từ đoạn trích dẫn Ngụy Thư · Thôi Huyền Bá truyện ở trên, ta đã thấy đối tượng bắt chước thư pháp của họ Lô. Ngụy Thư · Lô Huyền truyện cũng chép: "Ban đầu, cha Lô Chí bắt chước phép của Chung Diêu, truyền nghiệp qua nhiều đời, có tiếng tăm. Đến đời (Lô) Liêu trở lên, còn giỏi thêm thảo thư. Lô Uyên học gia pháp, cung điện đời đại đều do Uyên đề bảng. Bạch Mã công Thôi Huyền Bá cũng giỏi thư, đời truyền thể Vệ. Đầu đời Ngụy, những người giỏi thư pháp, chỉ có hai họ Thôi và Lô. Lô Sâm truyền cho con Tiềm, Tiềm truyền cho con Liêu." Ở đây, mối quan hệ kế thừa thư pháp của họ Lô cũng được ghi rất rõ. Ngoài ra, các nhánh kSi của họ Lô cũng có nhiều người giỏi thư pháp, không kể xiết.
Lang Da Nhan thị (琅琊颜氏): Trong họ Nhan ở Lang Da, những người giỏi thư pháp có Nhan Hiệp và con trai là Nhan Chi Thôi. Lương Thư · Nhan Hiệp truyện chép: "Nhan Hiệp, tự Tử Hòa, người Lâm Nghi, Lang Da. Ông tổ bảy đời là Hợp, đời Tấn Thị trung, Quốc tử Tế tửu, Tây Bình Tĩnh hầu... Hiệp mồ côi cha từ nhỏ, nuôi tại nhà cậu, ít tuổi đã nổi tiếng nhờ khí độ, đọc rộng các sách, giỏi thảo lệ."
Về sự kế thừa thư pháp của Nhan Chi Suy, "từ nhỏ theo nghiệp nhà, lại thêm yêu thích, các pháp thư ông thấy nhiều, công phu luyện tập rất công phu, nhưng không được hoàn hảo, thực ra là do không có năng khiếu với cổ văn." Thư pháp gia vĩ đại nhất của Lang Da Nhan thị phải kể đến cháu năm đời của Nhan Chi Suy là Nhan Chân Khanh đời Đường.
Trần Lưu Giang thị (陈留江氏): Thời Tây Tấn, Đôn Hoàng vẫn là trấn quan trọng ở phía Tây Bắc. Đầu niên hiệu Vĩnh Gia, Trương Quý được cử làm Hộ Quang Hiệu úy, Lương Châu thứ sử. Thời Thập lục quốc, nhiều sĩ phu trung nguyên đến tị nạn ở vùng Tây Châu, lấy Đôn Hoàng làm trung tâm. Tấn Thư · Liệt truyện đệ ngũ thập lục · Trương Quý chép rằng dưới triều Huệ Đế, Giả hậu nắm quyền, Bí thư giám Mậu Thế Huy, Thiếu phủ Bật Ngu sau khi quan sát tinh tượng ban đêm đã nói: "Thiên hạ sắp loạn, nơi tránh loạn chỉ có đất Lương Châu mà thôi." Lúc bấy giờ, gia tộc thư pháp nổi tiếng nhất ở Lương Châu là Trần Lưu Giang thị. Họ Giang Trần Lưu di cư đến Lương Châu trong đại loạn Vĩnh Gia. Ngụy Thư · Giang Thức truyện chép: "Ông tổ sáu đời là Giang Quỳnh, tự Mạnh Cù, đời Tấn làm Phùng Dực Thái thú, giỏi triện và huấn sấm. Trong đại loạn Vĩnh Gia, Quỳnh bỏ quan về phía Tây theo Trương Quý, con cháu vì thế ở đất Lương, đời đời giữ nghiệp nhà." Về sự kế thừa thư pháp, Giang Thức trong Luận Thư Biểu nói: "Ông tổ sáu đời là Giang Quỳnh, gia đình ở Trần Lưu, đầu đời Tấn, cùng với anh em họ là Ứng Nguyên (Giang Thống) đều theo học Vệ Ký. Pháp cổ triện, Bì Thương, Nhã, Ngôn, Thuyết Văn, lúc đó đều được khen... Đời Thế Tổ niên hiệu Thái Diên (435–440), uy đức nhà vua tỏa khắp phương Tây, Mục Kiền nội thuộc. Ông nội tôi là Giang Văn Uy cưỡi ngựa về nước, dâng sách vở truyền lại năm đời, pháp cổ triện bát thể, khi đó được ghi nhận, xếp vào hàng Nho lâm, làm quan ở bộ văn, gia đình có nghề truyền thống."
Trần Lưu Giang thị chính là người kế thừa gia phái Hà Đông Vệ thị ở vùng Tây Châu.
Về phương diện sư thụ thông thường:
Phi Thảo Thư, được truyền là của Triệu Nhất đời Đông Hán, nói: "Trong quận tôi có sĩ Lương Khổng Đạt, Khương Mạnh Dĩnh, đều là bậc hiền triết đương thời, nhưng họ mê mẩn thảo thư của Trương Chi quá còn hơn mong Khổng Tử, Nhan Hồi. Khổng Đạt viết thư đưa cho Mạnh Dĩnh xem, đều đọc thuộc lòng văn, viết chính tay bài, không hề biết mệt mỏi. Từ đó, những kẻ hậu học tranh nhau bắt chước hai bậc hiền, các quan huyện làm bài, mỗi người sao một quyển, cho là bí bảo. Tôi sợ họ quay lưng với kinh điển mà theo đuổi thói tục, đó không phải là cách mở mang đạo lý, làm rạng rỡ đời. Lại nghĩ đến việc La, Triệu chê cười, nên tôi nói rõ nguồn gốc thảo thư, để an ủi La, Triệu, làm cho Lương, Đổng thôi dừng."
Triệu Nhất đứng trên quan điểm kinh thế trị dụng của Nho học đã đưa ra lời phê phán nghiêm khắc đối với sự thịnh hành thảo thư cuối đời Hán. Tất nhiên, giới hạn trong quan niệm của Triệu Nhất đã được bàn luận từ lâu. Ngoài ra, tình trạng thảo thư thịnh hành cuối đời Hán phản ánh trong bài viết này cũng là bằng chứng cho sự khởi đầu của thư pháp với tư cách là nghệ thuật biểu đạt, và các thư pháp gia bắt đầu xuất hiện. Sự biến động của thời Ngụy Tấn đã kích hoạt tư duy của con người, thúc đẩy sự thức tỉnh về nhân tính. Văn học, với tư cách là sự bày tỏ cuộc đời và phản ánh tâm hồn, từ đó bước vào thời kỳ tự giác. Thư pháp, với tư cách là sự làm nổi bật giá trị thẩm mỹ và cảm xúc của hình thái chữ viết, cũng được con người theo đuổi một cách tự giác. Các thư pháp gia xuất hiện nhiều, được tôn trọng chưa từng có, và các sĩ tộc thư pháp gia dẫn dắt làn sóng và phong cách thư pháp. Giữa họ có sự kế thừa có trật tự, không chỉ xem thư pháp là sự thể hiện năng lực, mà còn là một trong những cách để tạo thanh thế. Dưới đây tôi chọn một số người tiêu biểu để trình bày:
Ngụy
Lương Hộc, tự Mạnh Hoàng, người Ô Thị, An Định, làm Hiếu liêm và giữ chức Lang. Vệ Hằng Tứ Thể Thư Thế nói: "Hộc thích hợp viết chữ lớn, Hàm Đan Thuần thích hợp viết chữ nhỏ. Hộc cho rằng Thuần được phép Thứ Trọng, nhưng Hộc dùng bút, hết sức thế của nó." Ngụy Vũ Đế cho là hơn Quan Anh." Dương Hân nói: "Lương Hộc An Định... theo phép của Sư Nghi Quan..."
Hàm Đan Thuần, tự Tử Thục, người Côn Dương, Dĩnh Xuyên, làm quan đến Cấp sự trung. Thư Tiểu Sử nói ông chí hướng thanh cao, tài học thông minh, thư pháp thông thạo cả tám thể, theo học Tào Hỉ, đặc biệt giỏi cổ văn đại triện và lệ thư bát phân.
Vệ Ký, tự Bá Nhu, thụy Kính, người An Ấp, Hà Đông, làm quan đến Thị trung. Tứ Thể Thư Thế nói: "Đầu đời Ngụy, những người truyền cổ văn đều xuất thân từ Hàm Đan Thuần. Tổ Kính Hầu (Vệ Ký) sao chép Thượng Thư của Thuần, sau đưa cho Thuần xem, Thuần không thể phân biệt được."
Chung Diêu, tự Nguyên Thường, người Trường Xã, Dĩnh Xuyên, làm Hiếu liêm giữ chức Lang, quan đến Thị trung Thượng thư bộ xạ, phong Đông Đình Vũ hầu. Khi nước Ngụy mới dựng, làm lễ tướng. Minh Đế lên ngôi, thăng Thái phó. Thư Tiểu Sử nói ông giỏi thư pháp, theo học Tào Hỉ, Lưu Đức Thăng, Thái Ung.
Hồ Chiêu, tự Khổng Minh, người Dĩnh Xuyên. Tứ Thể Thư Thế nói: "Đầu đời Ngụy, có hai nhà Chung và Hồ làm pháp hành thư, đều học Lưu Đức Thăng..."
Vi Đản, tự Trọng Tướng, người Kinh Triệu, quan đến Thị trung. Thư Tiểu Sử nói ông hết lòng theo Trương Chi và kiêm pháp Hàm Đan Thuần, các thể đều giỏi, đặc biệt tinh thông đề biển.
Ngô
Hoàng Tượng, tự Hưu Minh, người Quảng Lăng, Giang Đô, quan đến Thị trung. Thư Đoạn nói: "Giỏi chương thảo, theo học Đỗ Độ. Trước ông có Trương Tử Cánh, cùng thời có Trần Lương Phủ, đều được xưng là giỏi thư, nhưng Trần bị chê là gầy, Trương bị chê là khô cứng. Hưu Minh cân nhắc giữa hai người, rất đạt đến diệu..."
Tây Tấn
Vệ Quán, tự Bá Ngọc, con của Vệ Ký. Thư Đoạn chép: "Ông thường nói tôi được cái gân của Bá Anh, Hằng được cái xương, Tĩnh được cái thịt."
Vệ Hằng, tự Cự Sơn, con của Vệ Quán, quan đến Hoàng môn Thị lang. Thư Đoạn chép: "Quán từng nói: Tôi được cái gân của Bá Anh, Hằng được cái xương."
Sách Tĩnh, tự Ấu An, người Long Lặc, Đôn Hoàng, quan đến Chinh Tây Tư mã. Theo học Trương Chi.
Lục Cơ, tự Sĩ Hoành, người Ngô Quận, quan đến Hậu tướng quân. Thư Tiểu Sử nói ông giỏi hành thư, sư thụ không rõ.
Đông Tấn
Vương Hi Chi, tự Dật Thiếu, quan đến Hữu tướng quân Hội Kê Nội sử. Học Vệ phu nhân khi nhỏ, sau theo chú Vương Dị, hai mươi tuổi sau thì theo học thầy của thầy (tức là bắt chước cổ nhân). Chính thư và hành thư tôn sư Chung Diêu, thảo thư bắt chước Trương Chi.
Vương Hiến Chi, tự Tử Kính, con trai thứ bảy của Vương Hi Chi. Thư Đoạn chép: "Nhỏ học ở cha, sau học Trương (Chi), rồi thay đổi phép tắc, sáng tạo ra lối riêng."
Nam triều
Dương Hân, tự Kính Nguyên, người Nam Thành, Thái Sơn, quan đến Trung tán đại phu, Nghĩa Hưng Thái thú. Thư Đoạn chép: "Theo học Đại Lệnh (Vương Hiến Chi)."
Vương Tăng Kiền, tự Giản Mục, người Lâm Nghi, Lang Da, quan đến Thượng thư lệnh. Thư Đoạn chép: "Ngu Soái nói: ... nét chữ của Vương Tăng Kiền bắt chước Vương Hiến Chi, vẫn theo lối cổ, nên có phần thuần pSi, hơi thiếu sự mỹ lệ, như suối đá chứa băng, tuy rất thanh tú mà ít phong vị. Khổng Tử nói: 'Chất hơn văn thì thô', đó là nói về ông vậy."
Bắc triều
Giang Thức, tự Pháp An, người Tế Dương, Trần Lưu, quan đến Phù tiết lệnh Trước tác lang. Thư Tiểu Sử nói Thức từ nhỏ giỏi gia học, đặc biệt công về triện thể, các chữ bảng trên cổng cung điện Lạc Kinh đều do Thức viết.
Trịnh Đạo Chiêu, tự Hy Bá, người Khai Phong. Bao Thế Thần trong Nghệ Chu Song Tiếp nói: Văn Công (Trịnh Hy) con trai út là Đạo Chiêu, tự xưng Trung Nhạc tiên sinh. Có Vân Phong Sơn Ngũ Ngôn và hơn mười chỗ đề danh, nét chữ khéo léo, đẹp đẽ, gần với Đở Siêu và Tạ Vạn đời Nam triều, nghi là do con trai khắc cho mộ cha.
Phụ lục: Giáo Dục Thư Pháp Trong Cung Đình Thời Ngụy Tấn Nam Bắc Triều
Giáo dục cung đình là một phần của giáo dục trong cung. Đối tượng của giáo dục cung đình là con cái hoàng thất, điều này liên quan đến sự bền vững của giang sơn nhà vua. Vì vậy, các nhà cầm quyền phong kiến các triều đại đều rất coi trọng giáo dục con cái hoàng thất. Chế độ Thái tử bảo phó là hình thức chính của giáo dục cung đình, bắt nguồn từ truyền thống Thương Chu. Chế độ Thái tử bảo phó truyền thống Thương Chu đã được trình bày chi tiết ở phần trước, gồm Thái bảo, Thái phó, Thái sư (Tam công) và Thiếu bảo, Thiếu phó, Thiếu sư (Tam cô). Chức vụ của Tam công chủ yếu là "dạy" (giáo), Tam cô chủ yếu là "nuôi" (dục). Nhà Hán kế thừa chế độ nhà Chu, đặt các chức Thái sư, Thái phó trong triều, nhưng đã "tham gia cùng thiên tử ngồi bàn chính sự, không gì không tổng lãm." Chính quyền Ngụy Tấn tham khảo chế độ Hán để thiết lập chế độ Thái tử bảo phó, nhưng Thái tử bảo phó thời Lưỡng Tấn đã bắt đầu biến chất sang quyền lực. Do Thái bảo, Thái phó, Thái sư đứng đầu trăm quan về quan tước, yêu cầu cực kỳ cao, không dễ ban cho ai, nên chức vụ này thời Ngụy Tấn về cơ bản mất đi chức năng giáo dục truyền thống Thương Chu, trở thành biểu tượng của quyền lực và uy tín. Chế độ Thái tử bảo phó thời Nam Bắc triều cơ bản noi theo chế độ Tấn và có hoàn thiện, đặc biệt là Bắc triều đã có thể truy vãn truyền thống Thương Chu trong bối cảnh quyền lực, đồng thời tham khảo kinh nghiệm Hán Ngụy Lưỡng Tấn, đạt được sự cân bằng giữa chức năng giáo dục và quyền lực. Điều này liên quan mật thiết đến việc Bắc triều gấp rút Hán hóa và thiếu nhân tài.
Giáo dục do Thái tử bảo phó thực hiện là hình thức chính của giáo dục cung đình cho con cái hoàng thất. Các thầy đều là những học giả uyên bác. Nội dung giảng dạy ngoài kinh điển Nho gia còn chú trọng đến việc bồi dưỡng đức, trí, thể, để rèn luyện năng lực trị quốc bình thiên hạ sau này. Vì vậy, giáo dục thư pháp trong chế độ Thái tử bảo phó cơ bản không thấy.
Giáo dục cung đình thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều ngoài Thái tử bảo phó còn có nhiều hình thức kSi, như cho hoàng tử tham gia học tại Quốc tử học hoặc mời những người thông suốt kinh thuật hoặc học quan của quan học tới giảng kinh và đọc sách cho hoàng tử. Ở đây chúng ta thấy rằng, hiện tượng mời thầy dạy thư pháp cho hoàng tử trong cung đình thực tế khá phổ biến. Giang Thức đời Bắc Ngụy trong Luận Thư Biểu nói: "Hàm Đan Thuần ở Trần Lưu cùng thời với Trương Khiếm, bác học cổ nghệ, đặc biệt giỏi Thương, Nhã, chỉ từ của Hứa thị, bát thể, lục thư, tinh nghiên đạo lý, nổi tiếng hơn Khiếm, dùng thư pháp dạy các hoàng tử." Hàm Đan Thuần, cuối đời Ngụy, là danh gia truyền bá cổ văn, thư pháp gia, từng dạy thư pháp cho hoàng tử. Tống Thư quyển 7, Tiền Phế Đế Kỷ chép: "Vua Thế Tổ đi tuần phía Tây, Tử Nghiệp (con trai trưởng của Hiếu Vũ Đế) theo hầu, viết chữ không cẩn thận, bị trách mắng. Tử Nghiệp dâng sớ tạ lỗi, vua lại đáp: 'Chữ không tiến bộ, đó là một điều. Nghe nói ngươi thường lười biếng, ở một mình càng ngày càng quá, sao mà cứng đầu đến thế!'" Nam triều Tống Hiếu Vũ Đế đã chỉ trích con trai trưởng Tử Nghiệp là chữ không tiến bộ và phẩm chất đạo đức vẫn còn cứng đầu.
kuangtuan biên dịch
参考文献 (Tham Khảo Văn Hiến):
PHỤ LỤC: DANH SÁCH CÁC THƯ PHÁP GIA THỜI NGỤY TẤN NAM BẮC TRIỀU
I. THỜI ĐÔNG HÁN (CUỐI) — TIỀN ĐỀ CHO THỜI NGỤY TẤN
|
STT |
Tên Hán Việt |
Chữ Hán |
Tự |
Chữ Hán |
Hiệu/ Danh xưng |
Chữ Hán |
Ghi chú |
|
1 |
Thái Ung |
蔡邕 |
Bá Giai |
伯喈 |
- |
- |
Danh gia cuối Đông Hán, ông ngoại Dương Hỗ |
|
2 |
Trương Chi |
張芝 |
Bá Anh |
伯英 |
Thảo Thánh |
草聖 |
Được tôn là "Thảo Thánh" đời Hán |
|
3 |
Trương Xưởng |
張昶 |
Văn Thư |
文舒 |
- |
- |
Em Trương Chi, cũng giỏi thảo thư |
|
4 |
Thôi Viện |
崔瑗 |
Tử Ngọc |
子玉 |
- |
- |
Cha Thôi Thực |
|
5 |
Thôi Thực |
崔寔 |
Tử Chân |
子真 |
- |
- |
Con Thôi Viện |
|
6 |
Sư Nghi Quan |
師宜官 |
- |
- |
- |
- |
Thầy của Lương Hộc |
|
7 |
Lương Hộc |
梁鵠 |
Mạnh Hoàng |
孟皇 |
- |
- |
Học theo Sư Nghi Quan |
|
8 |
Lưu Đức Thăng |
劉德升 |
- |
- |
- |
- |
Khai sáng hành thư, thầy của Chung Diêu và Hồ Chiêu |
II. THỜI TAM QUỐC (TÀO NGỤY, THỤC, NGÔ)
|
STT |
Tên Hán Việt |
Chữ Hán |
Tự |
Chữ Hán |
Hiệu/ Danh xưng |
Chữ Hán |
Ghi chú |
|
9 |
Chung Diêu |
鍾繇 |
Nguyên Thường |
元常 |
- |
- |
Được tôn là "Khải thư tổ", cùng Vương Hi Chi xưng "Chung Vương" |
|
10 |
Hồ Chiêu |
胡昭 |
Khổng Minh |
孔明 |
- |
- |
Cùng Chung Diêu sáng lập hành thư |
|
11 |
Vệ Ký |
衛覬 |
Bá Nhu |
伯儒 |
Kính Hầu |
敬侯 |
Thủy tổ thư pháp Hà Đông Vệ thị |
|
12 |
Hàm Đan Thuần |
邯鄲淳 |
Tử Thục |
子淑 |
- |
- |
Giỏi cổ văn, đại triện, bát phân lệ thư, từng dạy hoàng tử |
|
13 |
Vi Đản |
韋誕 |
Trọng Tướng |
仲將 |
- |
- |
Được gọi là "Thảo Thánh", giỏi đề biển, tác giả Bút Kinh |
|
14 |
Vi Khang |
韋康 |
Nguyên Tướng |
元將 |
- |
- |
Anh Vi Đản, cũng giỏi thư pháp |
|
15 |
Vương Dị |
王廙 |
Thế Tương |
世將 |
Bình Nam |
平南 |
Chú Vương Hi Chi, "thư họa đệ nhất" qua Giang Đông |
|
16 |
Vương Đạo |
王導 |
Mậu Hoằng |
茂弘 |
- |
- |
Anh họ Vương Dị, thủy tổ thư pháp Lang Tà Vương thị |
|
17 |
Hoàng Tượng |
皇象 |
Hưu Minh |
休明 |
- |
- |
Thư pháp gia nước Ngô, giỏi chương thảo |
|
18 |
Trương Hoằng |
張弘 |
- |
- |
Trương Ô Cân |
張烏巾 |
Ngô Quận Trương thị, đặc giỏi phi bạch |
III. THỜI TÂY TẤN
|
STT |
Tên Hán Việt |
Chữ Hán |
Tự |
Chữ Hán |
Hiệu/ Danh xưng |
Chữ Hán |
Ghi chú |
|
19 |
Vệ Quán |
衛瓘 |
Bá Ngọc |
伯玉 |
- |
- |
Con Vệ Ký, cùng Sách Tĩnh gọi "nhất đài nhị diệu" |
|
20 |
Vệ Hằng |
衛恆 |
Cự Sơn |
巨山 |
- |
- |
Con Vệ Quán, tác giả Tứ Thể Thư Thế |
|
21 |
Vệ Tuyên |
衛宣 |
- |
- |
- |
- |
Con Vệ Quán |
|
22 |
Vệ Đình |
衛庭 |
- |
- |
- |
- |
Con Vệ Quán |
|
23 |
Sách Tĩnh |
索靖 |
Ấu An |
幼安 |
- |
- |
Học Trương Chi, tác giả Thảo Thư Thế |
|
24 |
Lục Cơ |
陸機 |
Sĩ Hoành |
士衡 |
Lục Bình Nguyên |
陸平原 |
Tác giả Bình Phục Thiếp và Văn Phú |
|
25 |
Dương Hỗ |
羊祜 |
Thúc Tử |
叔子 |
- |
- |
Cháu ngoại Thái Ung |
|
26 |
Lý Thức |
李式 |
Cảnh Tắc |
景則 |
- |
- |
Giang Hạ Lý thị |
|
27 |
Lý Định |
李定 |
- |
- |
- |
- |
Em Lý Thức |
|
28 |
Lý Công Phủ |
李公府 |
- |
- |
- |
- |
Em họ Lý Thức |
|
29 |
Trương Hàn |
張翰 |
Quý Ưng |
季鷹 |
- |
- |
Ngô Quận Trương thị |
IV. THỜI ĐÔNG TẤN
|
STT |
Tên Hán Việt |
Chữ Hán |
Tự |
Chữ Hán |
Hiệu/ Danh xưng |
Chữ Hán |
Ghi chú |
|
30 |
Vệ Thước (Vệ phu nhân) |
衛鑠 (衛夫人) |
Mạc Di |
茂猗 |
Vệ phu nhân |
衛夫人 |
Thầy của Vương Hi Chi, gả cho Lý Củ |
|
31 |
Vương Hi Chi |
王羲之 |
Dật Thiếu |
逸少 |
Thư Thánh |
書聖 |
Đỉnh cao thư pháp, tác giả Lan Đình Tập Tự |
|
32 |
Vương Hiến Chi |
王獻之 |
Tử Kính |
子敬 |
Đại Lệnh |
大令 |
Con Vương Hi Chi, "Nhị Vương" |
|
33 |
Vương Huy Chi |
王徽之 |
Tử Du |
子猷 |
- |
- |
Con thứ năm Vương Hi Chi, "được cái thế" |
|
34 |
Vương Tuần |
王珣 |
Nguyên Lâm |
元琳 |
Pháp Hộ |
法護 (tên nhỏ) |
Cháu nội Vương Đạo, tác giả Bá Viễn Thiếp |
|
35 |
Vương Hiệp |
王洽 |
Kính Hòa |
敬和 |
- |
- |
Cùng thế hệ Vương Hi Chi, giỏi hành thư |
|
36 |
Vương Quản |
王琯 |
- |
- |
- |
- |
Cùng thế hệ Vương Hiến Chi |
|
37 |
Dữu Lượng |
庾亮 |
Nguyên Quy |
元規 |
- |
- |
Dĩnh Xuyên Dữu thị |
|
38 |
Dữu Dực |
庾翼 |
Trĩ Cung |
稚恭 |
- |
- |
Em Dữu Lượng, "ngang hàng Vương Hi Chi" |
|
39 |
Si Giám |
郗鑒 |
Đạo Huy |
道徽 |
- |
- |
Thủy tổ Cao Bình Si thị |
|
40 |
Si Âm |
郗愔 |
Phương Hồi |
方回 |
- |
- |
Con Si Giám |
|
41 |
Si Đàm |
郗曇 |
Trọng Vĩ |
重熙 |
- |
- |
Con Si Giám |
|
42 |
Si Siêu |
郗超 |
Cảnh Hưng |
景興 |
- |
- |
Cháu Si Giám |
|
43 |
Si Khôi |
郗恢 |
- |
- |
- |
- |
Cháu Si Giám |
|
44 |
Tạ An |
謝安 |
An Thạch |
安石 |
Tạ Đông Sơn |
謝東山 |
Trần Quận Tạ thị, thư pháp gia kiêm chính trị gia |
|
45 |
Tạ Vạn |
謝萬 |
Vạn Thạch |
萬石 |
- |
- |
Em Tạ An |
|
46 |
Tạ Thượng |
謝尚 |
Nhân Tổ |
仁祖 |
- |
- |
Trần Quận Tạ thị |
|
47 |
Tạ Dịch |
謝奕 |
Vô Dịch |
無奕 |
- |
- |
Trần Quận Tạ thị |
|
48 |
Vương Thuật |
王述 |
Hoài Tổ |
懷祖 |
- |
- |
Thái Nguyên Vương thị |
|
49 |
Vương Mông |
王濛 |
Trọng Tổ |
仲祖 |
- |
- |
Thái Nguyên Vương thị, giỏi thảo lệ |
|
50 |
Vương Tu |
王修 |
Kính Nhân |
敬仁 |
- |
- |
Con Vương Mông, giỏi hành lệ |
|
51 |
Lý Sung |
李充 |
Hoàng Độ |
弘度 |
- |
- |
Con Lý Củ, em họ Lý Thức |
|
52 |
Dương Thầm |
羊忱 |
Trường Hòa |
長和 |
- |
- |
Thái Sơn Dương thị, giỏi thảo hành lệ |
V. THỜI NAM BẮC TRIỀU — NAM TRIỀU (TỐNG, TỀ, LƯƠNG, TRẦN)
|
STT |
Tên Hán Việt |
Chữ Hán |
Tự |
Chữ Hán |
Hiệu/ Danh xưng |
Chữ Hán |
Ghi chú |
|
53 |
Dương Hân |
羊欣 |
Kính Nguyên |
敬元 |
- |
- |
Học Vương Hiến Chi, Thái Sơn Dương thị |
|
54 |
Dương Cố |
羊固 |
- |
- |
- |
- |
Thái Sơn Dương thị |
|
55 |
Vương Hoằng |
王弘 |
- |
- |
- |
- |
Lang Tà Vương thị |
|
56 |
Vương Đàm Thủ |
王曇首 |
- |
- |
- |
- |
Lang Tà Vương thị |
|
57 |
Vương Vi |
王微 |
- |
- |
- |
- |
Lang Tà Vương thị |
|
58 |
Vương Tăng Kiền |
王僧虔 |
Giản Mục |
簡穆 |
- |
- |
Lang Tà Vương thị |
|
59 |
Vương Từ |
王慈 |
Bá Bảo |
伯寶 |
- |
- |
Con Vương Tăng Kiền |
|
60 |
Vương Kiệm |
王儉 |
Trọng Bảo |
仲寶 |
- |
- |
Lang Tà Vương thị |
|
61 |
Vương Tăng Hữu |
王僧祐 |
- |
- |
- |
- |
Lang Tà Vương thị |
|
62 |
Vương Tịch |
王籍 |
- |
- |
- |
- |
Lang Tà Vương thị |
|
63 |
Vương Chí |
王志 |
- |
- |
- |
- |
Lang Tà Vương thị (đời Lương) |
|
64 |
Vương Bân |
王彬 |
- |
- |
- |
- |
Lang Tà Vương thị (đời Lương) |
|
65 |
Vương Quân |
王筠 |
- |
- |
- |
- |
Lang Tà Vương thị (đời Lương) |
|
66 |
Trí Vĩnh |
智永 |
- |
- |
Vĩnh Thiền sư |
永禪師 |
Cháu bảy đời Vương Hi Chi, đời Trần |
|
67 |
Lương Vũ Đế (Tiêu Diễn) |
梁武帝 (蕭衍) |
Thúc Đạt |
叔達 |
Luyện Nhi |
練兒 (tên nhỏ) |
Hoàng đế khai quốc nhà Lương, thư pháp gia kiêm lý luận gia |
|
68 |
Nhan Hiệp |
顏協 |
Tử Hòa |
子和 |
- |
- |
Lang Tà Nhan thị |
|
69 |
Nhan Chi Suy |
顏之推 |
Giới |
介 |
- |
- |
Con Nhan Hiệp, tác giả Nhan Thị Gia Huấn |
|
70 |
Tiêu Tử Lương |
蕭子良 |
- |
- |
Cánh Lăng Vương |
竟陵王 |
Lập "Cánh Lăng bát hữu", có công với văn hóa |
VI. THỜI NAM BẮC TRIỀU — BẮC TRIỀU (BẮC NGỤY, TÂY NGỤY, BẮC CHU)
|
STT |
Tên Hán Việt |
Chữ Hán |
Tự |
Chữ Hán |
Hiệu/ Danh xưng |
Chữ Hán |
Ghi chú |
|
71 |
Thôi Ngu |
崔潛 |
- |
- |
- |
- |
Thủy tổ Thanh Hà Thôi thị |
|
72 |
Thôi Huyền Bá |
崔玄伯 |
- |
- |
- |
- |
Thanh Hà Thôi thị, giỏi thảo lệ, hành áp |
|
73 |
Thôi Hạo |
崔浩 |
- |
- |
- |
- |
Con Thôi Huyền Bá, viết Cấp Tựu Chương |
|
74 |
Lô Chí |
盧志 |
Tử Đạo |
子道 |
- |
- |
Thủy tổ Phạm Dương Lô thị |
|
75 |
Lô Sâm |
盧諶 |
Tử Lượng |
子諒 |
- |
- |
Con Lô Chí |
|
76 |
Lô Tiềm |
盧潛 |
- |
- |
- |
- |
Con Lô Sâm |
|
77 |
Lô Dật |
盧逸 |
- |
- |
- |
- |
Con Lô Tiềm |
|
78 |
Lô Huyền |
盧玄 |
- |
- |
- |
- |
Phạm Dương Lô thị, đời Bắc Ngụy |
|
79 |
Lô Uyên |
盧淵 |
- |
- |
- |
- |
Cháu Lô Huyền, giỏi gia pháp, đề bảng cung điện |
|
80 |
Giang Quỳnh |
江瓊 |
Mạnh Cù |
孟琚 |
- |
- |
Trần Lưu Giang thị, tổ sáu đời của Giang Thức |
|
81 |
Giang Thống |
江統 |
Ứng Nguyên |
應元 |
- |
- |
Anh họ Giang Quỳnh |
|
82 |
Giang Thức |
江式 |
Pháp An |
法安 |
- |
- |
Trần Lưu Giang thị, giỏi triện thư, có Luận Thư Biểu |
|
83 |
Giang Văn Uy |
江文威 |
- |
- |
- |
- |
Ông nội Giang Thức |
|
84 |
Triệu Văn Thâm |
趙文深 |
- |
- |
- |
- |
Bắc Chu Thư học Bác sĩ |
|
85 |
Trịnh Đạo Chiêu |
鄭道昭 |
Hy Bá |
僖伯 |
Trung Nhạc Tiên Sinh |
中嶽先生 |
Khắc bia Vân Phong Sơn, Bắc Ngụy |
VII. CÁC TÁC GIẢ LÝ LUẬN THƯ PHÁP, SỬ GIA THƯ PHÁP
|
STT |
Tên Hán Việt |
Chữ Hán |
Tự |
Chữ Hán |
Danh xưng |
Chữ Hán |
Ghi chú |
|
86 |
Triệu Nhất |
趙壹 |
- |
- |
- |
- |
Tác giả Phi Thảo Thư (cuối Đông Hán) |
|
87 |
Dương Hân |
羊欣 |
Kính Nguyên |
敬元 |
- |
- |
Tác giả Cổ Kim Lai Năng Thư Nhân Danh (Nam triều) |
|
88 |
Vương Tăng Kiền |
王僧虔 |
Giản Mục |
簡穆 |
- |
- |
Tác giả Luận Thư (Nam triều) |
|
89 |
Đậu Cần |
竇臮 |
- |
- |
- |
- |
Tác giả Thuật Thư Phú (đời Đường, chép về các thư pháp gia) |
|
90 |
Đậu Mông |
竇蒙 |
- |
- |
- |
- |
Em Đậu Cần, chú thích Thuật Thư Phú (đời Đường) |
|
91 |
Trương Hoài Quán |
張懷瓘 |
- |
- |
- |
- |
Tác giả Thư Đoạn, Thư Nghị (đời Đường) |
|
92 |
Dữu Khuân Ngô |
庾肩吾 |
- |
- |
- |
- |
Tác giả Thư Phẩm (Nam triều) |
|
93 |
Bao Thế Thần |
包世臣 |
Thận Bá |
慎伯 |
- |
- |
Tác giả Nghệ Chu Song Tập (đời Thanh, bình Ngụy bi) |
|
94 |
Lưu Hi Tải |
劉熙載 |
- |
- |
- |
- |
Tác giả Nghệ Khái (đời Thanh, có bàn về Nam – Bắc thư phong) |
VIII. CÁC NHÂN VẬT CÓ NHẮC ĐẾN TRONG VĂN BẢN NHƯNG KHÔNG RÕ CHI TIẾT VỀ TỰ, HIỆU
|
STT |
Tên Hán Việt |
Chữ Hán |
Ghi chú |
|
95 |
Tào Tháo |
曹操 |
Có lệnh các quận huyện lập học quan |
|
96 |
Tào Phi (Ngụy Văn Đế) |
曹丕 (魏文帝) |
Lập Thái học năm Hoàng Sơ thứ 5 |
|
97 |
Tào Duệ (Ngụy Minh Đế) |
曹叡 (魏明帝) |
Lập Sùng Văn Quán, sai Vi Đản đề biển |
|
98 |
Tư Mã Viêm (Tấn Vũ Đế) |
司馬炎 (晉武帝) |
Thời Tây Tấn, lập Quốc tử học |
|
99 |
Lưu Dụ (Tống Vũ Đế) |
劉裕 (宋武帝) |
- |
|
100 |
Lưu Nghĩa Long (Tống Văn Đế) |
劉義隆 (宋文帝) |
Lập bốn khoa Nho, Huyền, Sử, Văn |
|
101 |
Lưu Úc (Tống Minh Đế) |
劉彧 (宋明帝) |
Lập Tổng Minh Quán năm khoa |
|
102 |
Tiêu Diễn (Lương Vũ Đế) |
蕭衍 (梁武帝) |
Sai Chu Hưng Tự làm Thiên Tự Văn |
|
103 |
Tuân Úc |
荀勖 |
Lập Thư Bác sĩ thời Tây Tấn |
|
104 |
Trương Hoa |
張華 |
Cùng Tuân Úc chỉnh lý thư tịch |
|
105 |
Lôi Thứ Tông |
雷次宗 |
Lập Nho học tại Kê Sơn |
|
106 |
Hà Thượng Chi |
何尚之 |
Lập Huyền học |
|
107 |
Hà Thừa Thiên |
何承天 |
Lập Sử học |
|
108 |
Tạ Nguyên |
謝元 |
Lập Văn học |
|
109 |
Ân Thiết Thạch |
殷鐵石 |
Lấy chữ Vương Hi Chi cho Thiên Tự Văn |
|
110 |
Chu Hưng Tự |
周興嗣 |
Biên soạn Thiên Tự Văn |
|
111 |
Khấu Khiêm Chi |
寇謙之 |
Cải cách Đạo giáo Bắc triều |
|
112 |
Lục Tu Tĩnh |
陸修靜 |
Cải cách Đạo giáo Nam triều |
|
113 |
Đào Hoằng Cảnh |
陶弘景 |
Đạo sĩ, được gọi "Sơn trung tể tướng" |
|
114 |
Cát Hồng |
葛洪 |
Đạo sĩ, tác giả Bão PSi Tử |
PHỤ LỤC: CÁC TÁC PHẨM THƯ PHÁP VÀ SÁCH VỀ THƯ PHÁP ĐƯỢC ĐỀ CẬP TRONG BÀI KHẢO LUẬN
(Biên tập dựa trên toàn bộ các tác phẩm, pháp thiếp và thư luận được nhắc đến trong bài khảo luận)
I. PHÁP THIẾP (TÁC PHẨM THƯ PHÁP)
|
STT |
Tên tác phẩm |
Chữ Hán |
Tác giả |
Thời đại |
Thể loại |
Ghi chú |
|
1 |
Bình Phục Thiếp |
平復帖 |
Lục Cơ |
Tây Tấn |
Thảo lệ |
Pháp thiếp cổ nhất còn tồn tại, viết trên giấy gai bằng bút lông cũ. Được mệnh danh "Pháp thiếp chi tổ". Nét chữ uyển chuyển, phong cách mộc mạc, chất phác, nằm giữa chương thảo và kim thảo. Hiện tàng tại Bảo tàng Cố cung Bắc Kinh. |
|
2 |
Tuyên Thị Biểu |
宣示表 |
Chung Diêu |
Tam Quốc (Ngụy) |
Tiểu khải |
Chân tích đã thất truyền, khắc bản thấy đầu tiên trong Thuần Hóa Các Thiếp đời Tống. Là đại diện tiêu biểu của tiểu khải thời Ngụy Tấn. Nét bút còn nhiều ý lệ, kết cấu rộng dẹt, bút pháp chất phác, cổ nhã. Ảnh hưởng trực tiếp đến "Nhị Vương" và khải thư Đường. |
|
3 |
Hạ Tiệp Biểu |
賀捷表 |
Chung Diêu |
Tam Quốc (Ngụy) |
Tiểu khải |
Một trong những tác phẩm tiểu khải tiêu biểu của Chung Diêu, thể hiện sự chuyển biến từ lệ sang khải. |
|
4 |
Thiên Tự Văn |
千字文 |
Chu Hưng Tự biên soạn; Trí Vĩnh lâm mô |
Nam Lương |
Chân thư, hành thư |
Lương Vũ Đế sai Chu Hưng Tự biên soạn. Trí Vĩnh (cháu bảy đời Vương Hi Chi) tự lâm mô 800 bản, phân phát cho các chùa ở Giang Nam làm khuôn mẫu cho kinh sinh. Đây là sách giáo khoa có ảnh hưởng lớn nhất đối với đời Nam triều và các thời đại sau. |
|
5 |
Nguyệt Nghi Thiếp |
月儀帖 |
Sách Tĩnh (truyền) |
Tây Tấn |
Chương thảo |
Là thư tín mẫu theo tháng, là điển phạm sớm nhất còn truyền lại trong loại thư nghi này. Nay chỉ còn khắc bản, tổng cộng 104 hàng, dùng bút trầm ổn, bút thế bay động, chữ rõ ràng dễ nhận biết, kết cấu giản khiết. |
|
6 |
Lan Đình Tập Tự |
蘭亭集序 |
Vương Hi Chi |
Đông Tấn |
Hành thư |
Được mệnh danh "thiên hạ đệ nhất hành thư". Chân tích đã thất truyền, các bản hiện tồn đều là lâm mô của hậu thế. Được liệt vào "đệ nhất quyển đệ nhất thiếp" trong nội phủ Trinh Quán. |
|
7 |
Hoàng Đình Kinh |
黃庭經 |
Vương Hi Chi |
Đông Tấn |
Tiểu khải |
Một trong tam đại khải thư của Vương Hi Chi, nguyên bản viết trên lụa vàng. Chữ vuông, kết cấu cân bằng, khoảng cách giữa các nét chữ chỉnh tề. |
|
8 |
Thập Thất Thiếp |
十七帖 |
Vương Hi Chi |
Đông Tấn |
Thảo thư |
Là tập hợp 22 bức thư của Vương Hi Chi. Thảo pháp linh động, điểm họa rõ ràng mà khí thế liên quán, được hậu thế đẩy là tuyệt phẩm thảo thư. |
|
9 |
Khoái Tuyết Thời Tình Thiếp |
快雪時晴帖 |
Vương Hi Chi |
Đông Tấn |
Hành thư |
Là một bức thư ngắn 28 chữ. Kết cấu đoan trang, vận bút lưu loát, thần ý viên mãn. Cùng Bá Viễn Thiếp (Vương Tuân) và Trung Thu Thiếp (Vương Hiến Chi) được xưng là "Tam Hy". |
|
10 |
Tang Loạn Thiếp |
喪亂帖 |
Vương Hi Chi |
Đông Tấn |
Hành thảo |
Là một trong những thư tín của Vương Hi Chi. Kết cấu nghiêm mật, kết thể ưu mỹ, dụng bút nội liễm. |
|
11 |
Nhị Tạ Thiếp |
二謝帖 |
Vương Hi Chi |
Đông Tấn |
Hành thảo |
Thư tín của Vương Hi Chi, cùng Tang Loạn Thiếp, Đắc Thị Thiếp là tinh phẩm của vương thư. |
|
12 |
Đắc Thị Thiếp |
得示帖 |
Vương Hi Chi |
Đông Tấn |
Hành thảo |
Cấu trúc nghiêm mật, kết thể ưu mỹ. |
|
13 |
Di Mẫu Thiếp |
姨母帖 |
Vương Hi Chi |
Đông Tấn |
Hành thư |
Một trong những thư tín tiêu biểu của Vương Hi Chi. Phong cách cổ lão, mang dấu ấn chương thảo. |
|
14 |
Bình An Thiếp |
平安帖 |
Vương Hi Chi |
Đông Tấn |
Hành thư |
Thư tín của Vương Hi Chi. |
|
15 |
Hà Như Thiếp |
何如帖 |
Vương Hi Chi |
Đông Tấn |
Hành thư |
Thư tín của Vương Hi Chi. |
|
16 |
Phụng Quất Thiếp |
奉橘帖 |
Vương Hi Chi |
Đông Tấn |
Hành thư |
Thư tín của Vương Hi Chi, ghi chép việc tặng quả. |
|
17 |
Nhạc Nghị Luận |
樂毅論 |
Vương Hi Chi |
Đông Tấn |
Tiểu khải |
Một trong những tiểu khải danh tác của Vương Hi Chi. |
|
18 |
Trung Thu Thiếp |
中秋帖 |
Vương Hiến Chi |
Đông Tấn |
Hành thảo |
Truyền là mặc tích của Vương Hiến Chi, được Thanh Càn Long xưng là một trong "Tam Hy". Có 22 chữ, thần thải như mới. Cùng Bá Viễn Thiếp và Khoái Tuyết Thời Tình Thiếp tạo thành "Tam Hy Đường". |
|
19 |
Lạc Thần Phú Thập Tam Hành |
洛神賦十三行 |
Vương Hiến Chi |
Đông Tấn |
Tiểu khải |
Là đại diện cho tiểu khải của Vương Hiến Chi. Đời Tống chỉ còn tàn tích 13 hàng. Dùng bút thẳng thắn có lực, phong cách tú mỹ, kết cấu khoáng đạt. |
|
20 |
Áp Đầu Hoàn Thiếp |
鴨頭丸帖 |
Vương Hiến Chi |
Đông Tấn |
Thảo thư |
Tồn bản là bản lâm mô đời Đường, 2 hàng 15 chữ. Vận bút thuần thục, nét bút mạnh mẽ linh động, phong thần tán dật. Hiện tàng tại Bảo tàng Thượng Hải. |
|
21 |
Bá Viễn Thiếp |
伯遠帖 |
Vương Tuân |
Đông Tấn |
Hành thư |
Là bức thư ngắn 5 hàng 47 chữ, là duy nhất trong số mặc tích người Tấn còn lưu lại có đề tên thật. Bút pháp tuấn dật, lưu loát, kính kiện linh động. Hiện tàng tại Bảo tàng Cố cung Bắc Kinh. Được Đổng Kỳ Xương khen "tiêu sái cổ đạm, Đông Tấn phong lưu, uyển nhiên tại nhãn". |
|
22 |
Tân Nguyệt Thiếp |
新月帖 |
Vương Huy Chi |
Đông Tấn |
Hành thư |
Là thư tín hành khải, hiện tồn tại Vạn Tuế Thông Thiên Thiếp bản khắc đời Đường. Bút phong viên nhuận, nét chữ đều đặn. |
|
23 |
Thừa Tẩu Bệnh Bất Giảm Thiếp |
承嫂病不減帖 |
Vương Huy Chi |
Đông Tấn |
Hành thư |
Được nhắc đến trong bài khảo luận, là một trong những tác phẩm lưu truyền của Vương Huy Chi. |
|
24 |
Vương Diễm Thiếp |
王琰帖 |
Vương Tăng Kiền |
Nam Tề |
Hành thư |
Mặc tích còn lại của Vương Tăng Kiền. |
II. SÁCH GIÁO KHOA VÀ TỰ ĐIỂN (MÔNG HỌC – GIÁO DỤC KHAI MÔNG)
|
STT |
Tên sách |
Chữ Hán |
Tác giả / Thời đại |
Ghi chú |
|
1 |
Cấp Tựu Chương |
急就章 (急就篇) |
Sử Du (Tây Hán), có bản viết của Chung Diêu, Hoàng Tượng, Vệ phu nhân, Vương Hi Chi, Sách Tĩnh thời Ngụy Tấn |
Là sách vỡ lòng lưu hành từ thời Hán. Đến thời Ngụy Tấn, các thư pháp gia đều có bản viết tay, có ý nghĩa làm khuôn mẫu thư pháp trong giáo dục nhi đồng. |
|
2 |
Tiểu Học Thiên |
小學篇 |
Đời Ngụy Tấn Nam Bắc triều |
Sách giáo khoa khai mông, xuất hiện trong thời kỳ này. |
|
3 |
Thủy Học |
始學 |
Đời Ngụy Tấn Nam Bắc triều |
Sách giáo khoa khai mông. |
|
4 |
Thiếu Học |
少學 |
Đời Ngụy Tấn Nam Bắc triều |
Sách giáo khoa khai mông. |
|
5 |
Phát Mông Ký |
發蒙記 |
Đời Ngụy Tấn Nam Bắc triều |
Sách giáo khoa khai mông. |
|
6 |
Khải Mông Ký |
啟蒙記 |
Đời Ngụy Tấn Nam Bắc triều |
Sách giáo khoa khai mông. |
|
7 |
Huấn Tục Văn Tự Lược |
訓俗文字略 |
Đời Ngụy Tấn Nam Bắc triều |
Sách về chữ viết, có chức năng chính tự. |
|
8 |
Khai Mông Yếu Huấn |
開蒙要訓 |
Đời Ngụy Tấn Nam Bắc triều |
Sách giáo khoa khai mông. |
|
9 |
Cổ Kim Văn Tự |
古今文字 |
Giang Thức (Bắc Ngụy) |
Dự định viết 40 quyển, tiếc chưa hoàn thành. Lấy Hứa Thận Thuyết Văn Giải Tự làm gốc, trên khắc triện, dưới khắc lệ. |
III. SÁCH LÝ LUẬN THƯ PHÁP (THƯ LUẬN)
|
STT |
Tên sách |
Chữ Hán |
Tác giả |
Thời đại |
Ghi chú |
|
1 |
Bút Kinh |
筆經 |
Vi Đản |
Tam Quốc (Ngụy) |
Sách chuyên về chế tác bút lông, tổng kết kinh nghiệm thư pháp. Danh ngôn "Phàm thợ khéo muốn làm tốt việc, ắt trước hết phải làm sắc bén dụng cụ" xuất phát từ đây. Tề Dân Yếu Thuật có ghi lại chi tiết phương pháp chế bút của ông. |
|
2 |
Vi Đản Tập |
韋誕集 |
Vi Đản |
Tam Quốc (Ngụy) |
Gồm 30 quyển, là tập hợp các tác phẩm văn chương của Vi Đản. |
|
3 |
Tứ Thể Thư Thế |
四體書勢 |
Vệ Hằng |
Tây Tấn |
Là luận văn thư pháp quan trọng thời Tây Tấn. Phân tích bốn thể chữ: cổ văn, triện, lệ, thảo. Ghi chép nguồn gốc và sự phát triển của các thể chữ, là tư liệu quý về lịch sử thư pháp đời Tấn. |
|
4 |
Thảo Thư Thế |
草書勢 |
Sách Tĩnh |
Tây Tấn |
Luận về thảo thư, được ví như Lan Đình Tập Tự trong lĩnh vực lý luận thư pháp. Có ảnh hưởng sâu sắc đến hậu thế. |
|
5 |
Thư Phẩm |
書品 |
Dữu Nghi Ngô |
Nam Lương |
Phẩm bình các thư pháp gia từ thời Hán đến Lương, chia thành thượng, trung, hạ ba phẩm, mỗi phẩm lại chia thượng, trung, hạ. Là tiền thân của hệ thống phẩm bình thư pháp. |
|
6 |
Cổ Kim Lai Năng Thư Nhân Danh |
采古來能書人名 |
Dương Hân (lục danh), Vương Tăng Kiền (ký sự, chú) |
Nam Tống – Nam Tề |
Thành sách năm Kiến Nguyên thứ nhất (479). Ghi chép danh sách những người giỏi thư pháp từ xưa đến nay, là tài liệu sớm nhất về lịch sử thư pháp nhân vật. Có thể trải qua Vệ Hằng, Dương Hân, Vương Tăng Kiền nhiều người biên tập. |
|
7 |
Luận Thư |
論書 |
Vương Tăng Kiền |
Nam Tề |
Là luận văn thư pháp quan trọng thời Nam triều. Đề xuất các phạm trù phê bình như "thiên nhiên dữ công phu" (trời phú và công phu), "lực dữ mị" (sức mạnh và nhu mì), bước đầu xây dựng hệ thống lý luận phê bình thư pháp thời Nam triều. |
|
8 |
Lại Luận Thư (Hựu Luận Thư) |
又論書 |
Vương Tăng Kiền |
Nam Tề |
Cùng Luận Thư và Bút Ý Tán tạo thành hệ thống lý luận thư pháp của Vương Tăng Kiền. |
|
9 |
Bút Ý Tán |
筆意贊 |
Vương Tăng Kiền |
Nam Tề |
Bàn về ý nghĩa và tinh thần của bút pháp. |
|
10 |
Luận Thư Biểu |
論書表 |
Giang Thức |
Bắc Ngụy |
Dâng lên Bắc Ngụy Tuyên Vũ Đế. Trình bày nguyên do biên soạn Cổ Kim Văn Tự, chủ yếu bàn về văn tự học, kiêm luận thư pháp. Thuật lại quá trình hình thành và phát triển các thể chữ từ thương thư đến bản triều, nhằm cải chính phong khí sai lệch trong thư thể đương thời. |
|
11 |
Phi Thảo Thư |
非草書 |
Triệu Nhất |
Đông Hán cuối |
Đứng trên lập trường Nho học kinh thế, phê phán nghiêm khắc sự thịnh hành của thảo thư, nhưng cũng phản ánh tình trạng thư pháp đang trở thành nghệ thuật tự giác. Là tư liệu quan trọng để nghiên cứu sự hình thành của thư pháp gia. |
|
12 |
Thuật Thư Phú |
述書賦 |
Đậu Cần, Đậu Mông chú |
Đường |
Tác phẩm lý luận thư pháp đời Đường, thượng thiên thuật từ Thượng Cổ đến Nam Bắc triều, hạ thiên thuật từ Đường Cao Tổ đến thời Đường. Bình phẩm phong cách chữ viết của các thư pháp gia nổi tiếng qua các đời, là tư liệu quan trọng để nghiên cứu thư pháp thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều. |
|
13 |
Thư Đoạn |
書斷 |
Trương Hoài Quán |
Đường |
Ghi chép và phẩm bình các thư pháp gia từ xưa đến đời Đường, chia thành thần, diệu, năng tam phẩm. Là một trong những sách lý luận thư pháp quan trọng nhất. |
|
14 |
Phi Bạch Tự Thế |
飛白序勢 |
Trương Hoằng |
Đông Ngô |
Tác phẩm luận về phi bạch thư, tự miêu tả cái đẹp của phi bạch. |
|
15 |
Văn Phú |
文賦 |
Lục Cơ |
Tây Tấn |
Tuy là tác phẩm văn học luận, nhưng có liên quan đến tư duy thẩm mỹ thời Ngụy Tấn, ảnh hưởng đến lý luận thư pháp. |
|
16 |
Nhan Thị Gia Huấn |
顏氏家訓 |
Nhan Chi Suy |
Bắc Tề – Tùy |
Mặc dù là sách gia huấn, nhưng có nhiều nội dung bàn về thư pháp và giáo dục thư pháp trong gia đình. |
|
17 |
Nghệ Chu Song Tập |
藝舟雙楫 |
Bao Thế Thần |
Thanh |
Sách lý luận thư pháp đời Thanh, có đánh giá cao về Ngụy bi và Trịnh Đạo Chiêu. |
|
18 |
Nghệ Khái |
藝概 |
Lưu Hi Tải |
Thanh |
Có luận điểm so sánh "Nam thư ôn nhã, Bắc thư hùng kiện" – là quan điểm quan trọng về sự khác biệt giữa thư phong Nam – Bắc triều. |
IV. TÁC PHẨM KHẮC BIA (BIA HỌC – BI KHẮC, MỘ CHÍ, MA NHAI)
|
STT |
Tên tác phẩm |
Chữ Hán |
Thời đại |
Ghi chú |
|
1 |
Vân Phong Sơn Ngũ Ngôn |
雲峰山五言 |
Bắc Ngụy |
Do Trịnh Đạo Chiêu khắc, là một trong những tác phẩm ma nhai tiêu biểu của Bắc Ngụy. Chữ thế khéo léo, xinh đẹp. |
|
2 |
Trịnh Văn Công Bi |
鄭文公碑 |
Bắc Ngụy |
Do Trịnh Đạo Chiêu khắc cho mộ cha, là đại diện tiêu biểu của khải thư Bắc Ngụy. |
|
3 |
Các tác phẩm khắc trên bia đá, mộ chí, tạo tượng ký thời Bắc Ngụy |
魏碑 |
Bắc Ngụy |
Bao gồm bia đá, mộ chí minh, ma nhai và tạo tượng ký. Phần lớn do thư pháp gia vô danh trong dân gian khắc, phong cách hùng kính, mạnh mẽ, chất phác, là thể chữ chuyển tiếp từ lệ sang khải. Được phục hưng vào đời Thanh. |
V. CÁC PHÁP THIẾP TẬP HỢP (THIẾP HỌC)
|
STT |
Tên tập thiếp |
Chữ Hán |
Thời đại biên soạn |
Ghi chú |
|
1 |
Thuần Hóa Các Thiếp |
淳化閣帖 |
Tống Thái Tông (992) |
Là bộ pháp thiếp lớn đầu tiên do triều đình biên soạn. Tuyên Thị Biểu của Chung Diêu lần đầu xuất hiện trong tập thiếp này. |
|
2 |
Vạn Tuế Thông Thiên Thiếp |
萬歲通天帖 |
Đường (697–698) |
Do Vũ Tắc Thiên mệnh thần lâm mô. Tập hợp thư pháp của bảy người trong dòng họ Vương Hi Chi, Tân Nguyệt Thiếp của Vương Huy Chi nằm trong tập này. |
|
3 |
Tam Hy Đường Pháp Thiếp |
三希堂法帖 |
Thanh Càn Long (1747–1750) |
Tập hợp Khoái Tuyết Thời Tình Thiếp (Vương Hi Chi), Trung Thu Thiếp (Vương Hiến Chi), Bá Viễn Thiếp (Vương Tuân). |
|
4 |
Lân Tô Viên Pháp Thiếp |
鄰蘇園法帖 |
Đời Thanh |
Trong đó có bản khắc Nguyệt Nghi Thiếp của Sách Tĩnh. |