Bàn lược về nguồn gốc và diễn biến của Họ của người Hán

Ngày đăng: 04/09/2026 | 00:09

Bàn lược về nguồn gốc và diễn biến của Tính-Thị người Hán

Chu Viễn Thành, Hạ Quần Phương
(1. Ban biên tập Tạp chí Học viện Sư phạm Hành Dương;

2. Cục Dân tộc và Tôn giáo Vũ Cương -  Hồ Nam , Trung Quốc)

Tính-Thị là biểu hiện quan trọng của tính xã hội loài người, Tính-Thị người Hán là hiện tượng văn hóa đặc hữu của dân tộc Trung Hoa. “Tính” và “Thị” vốn là hai khái niệm khác nhau. “Thượng cổ có Tính có Thị”, “Tính-Thị vừa có khu biệt vừa có liên hệ” (Vương Lực Cổ đại Hán ngữ). Từ góc độ ngôn ngữ học văn hóa, khảo sát sự khu biệt của Tính-Thị, nguồn gốc Tính-Thị, sự hợp nhất Tính-Thị, sự thay đổi Tính-Thị cũng như sự biến hóa phát triển của Tính-Thị ngày nay, rồi truy cứu nguồn cội dòng chảy của Tính-Thị người Hán Trung Quốc, có thể giúp chúng ta tìm cội hỏi tổ, phát huy đức hạnh tổ tiên, tăng cường lòng tôn nghiêm dân tộc, tinh thần dân tộc, ý thức dân tộc và sức mạnh đoàn kết của người Hoa trong và ngoài nước.

I. Tính và Thị

“Tính-Thị” ban đầu là hợp xưng của Tính và Thị. Tính và Thị có sự khác biệt, “Tính là một loại tộc hiệu, Thị là chi nhánh của Tính”. “Thiên tử kiến đức, nhân sinh dĩ  tứ Tính, thắng chi thổ nhi mệnh chi Thị -天子建德,因生以赐姓,胙之土而命之氏”. Tính do huyết thống quyết định, Thị do đất phong, nơi cư trú quyết định. Tính, vốn viết là “” (sinh), Thuyết văn giải thích: “cái mà người ta sinh ra -人所生也”, “tòng nữ sinh, sinh cũng là thanh从女生,生亦声”. Có nghĩa là, “Tính” đánh dấu một người do bộ lạc nào sinh ra, cho nên cũng gọi là “sinh”. Do xã hội mẫu hệ chỉ biết mẹ mà không biết cha, nên thêm bộ “nữ” vào, viết thành “Tính”. “Tính” là ký hiệu chung của những người cùng một thủy tổ nữ, là dấu hiệu của quan hệ huyết thống thiên bẩm. Tính thời cổ đại giữ vai trò “phân minh huyết thống”, “phân biệt hôn nhân”. Thị, thời cổ cùng âm với “chi”. Thị ấy là chi , chi của Tính -氏者,支也,姓之支也. Thị thường biểu Thị sự sùng bái Tô-tem của một bộ lạc nào đó, phù hiệu bộ lạc hoặc khu vực cư trú. Tức là cùng một Tính, bộ lạc phân thành nhiều chi nhánh, mỗi chi nhánh lại có một xưng hiệu mới làm dấu hiệu, đó chính là Thị. Có thể thấy, Tính sinh ra trong xã hội mẫu hệ, Thị sinh ra trong xã hội phụ hệ.

Trước thời Chu, thiên tử có Tính không có Thị, quý tộc có Tính có Thị, bách tính không có Tính không có Thị, chỉ có tên. Đến thời Xuân Thu Chiến Quốc, bách tính mới có Tính-Thị. Trịnh Tiều trong Thông chí · Thị tộc lược · Thị tộc tự 《通志氏族略氏族序》chép: “Trước thời Tam đại, Tính-Thị chia làm hai. Đàn ông xưng Thị, đàn bà xưng Tính. Thị dùng để phân biệt sang hèn, người sang có Thị, kẻ hèn có tên không có Thị, nay các man di phương Nam vẫn còn giữ lệ này. Xưa các chư hầu nếu mất Thị thì cũng như mất tước vị mất nước, đủ biết đó là kẻ hèn. Cho nên Tính có thể gọi là Thị, Thị không thể gọi là Tính. Tính dùng để biệt hôn nhân, cho nên có sự phân biệt đồng Tính, dị Tính, thứ Tính. Cùng Thị mà Tính khác nhau thì có thể thông hôn; cùng Tính mà Thị khác nhau thì không thể thông hôn. Sau Tam đại, Tính-Thị hợp nhất làm một, đều dùng để biệt hôn nhân, và lấy địa vọng để phân minh sang hèn.”

Nói tóm lại, Tính vốn là tộc hiệu của gia tộc, những người cùng một Tính tộc do con cháu không ngừng phồn diễn rậm rạp, dần phân hóa ra một số chi phái, những chi nhánh này chính là Thị. Sau khi xuất hiện “Thị”, Tính trở thành tộc hiệu cũ, Thị trở thành tộc hiệu mới. Học giả nổi tiếng đời Thanh Đoàn Ngọc Tài trong Thuyết văn giải tự chú · Thị nói: “Tính là cái thống nhiếp ở trên; Thị là cái phân biệt ở dưới.” Tính dùng để “biệt hôn nhân”, Thị dùng để “phân sang hèn”. Sau Tần Hán, Tính-Thị không phân biệt. Chính thức đem Tính và Thị lẫn lộn làm một, bắt đầu từ Tư Mã Thiên. Sử ký · Hạng Vũ bản kỷ: “Họ Hạng đời đời làm tướng nước Sở, được phong đất Hạng, nên Tính là Hạng Thị.” Học giả đời Thanh Cố Viêm Võ trong Nhật tri lục · Quyển 23 · Thị tộc cũng nói: “Từ khi Thái sử công bắt đầu gọi chung Tính-Thị làm một.” Tư Mã Thiên soạn Sử ký, cho rằng thiên hạ đều cùng Tính, cùng Tính đều là một nhà, dân tộc Trung Hoa bất luận là người Hoa Hạ hay các dân tộc thiểu số xung quanh, đều là con cháu Viêm Hoàng, cùng một cội, một nguồn, cho nên không phân biệt Tính-Thị. Lịch sử chứng minh, tư tưởng nhất thống này của Tư Mã Thiên là hoàn toàn chính xác. Theo sử sách ghi chép, rất nhiều Tính cổ đều bắt nguồn từ Hoàng Đế và Viêm Đế, thủy tổ của dân tộc Hoa Hạ. Các chính quyền dân tộc thiểu số sau Tần Hán như Ngụy, Liêu, Kim, Hạ, Nguyên, Thanh, trong ghi chép chính sử, đều xác nhận là hậu duệ của Hoàng Đế. Từ tình hình nghiên cứu Tính-Thị của Trung Quốc hiện nay, có thể rút ra: Tính hiện nay bắt nguồn từ Tính cổ, cội nguồn đều ở Viêm Hoàng.

II. Nguồn gốc Tính-Thị

1. Nguồn gốc của Tính

Ban Cố Bạch hổ thông đức luận · Tính Danh (白虎通德论姓名) : “Người ta có Tính là vì sao? Là để tôn trọng tình yêu thương, làm sâu đậm tình thân, xa lìa cầm thú, phân biệt hôn nhân. Cho nên ghi chép đời, phân loại, khiến sống yêu thương, chết thương tiếc, cùng Tính không được lấy nhau, đều là để coi trọng luân lý.” Cho nên, Tính giữ vai trò phân biệt quan hệ huyết thống, để xác định có thể kết hôn hay không. Vậy thì Tính rốt cuộc bắt nguồn từ đâu?

Từ ghi chép trong văn hiến cổ đại có thể thấy, Tính cổ thời Tiên Tần, hầu như đều bắt nguồn từ truyền thuyết thời tiền sử. Cho nên, ngoài một số ít Tính cổ có ghi chép chi tiết trong sử liệu, cách thức nguồn gốc của phần lớn Tính cổ chỉ có thể do người đời sau suy đoán mà suy diễn. Tổng thể mà nói, hiện nay, về nguồn gốc Tính cổ có những quan điểm sau:

(1) Cảm ứng Tô-tem và nguồn gốc Tính cổ. Sách vở cổ đại Trung Quốc như Kinh Thi诗经, Sử ký · Ngũ đế bản kỷ史记五帝本纪, Bạch hổ thông · Tínhdanh 白虎通姓名, Luận hành · Kỳ quái thiên论衡奇怪篇... có ghi chép về phương diện này. “Vũ  Tính  Tự Thị, tổ Xương Ý昌意  do lấy ý dĩ (薏苡) mà sinh. Ân  Tính Tử  Thị, tổ do chim huyền điểu con玄鸟子 mà sinh. Chu  Tính Cơ  Thị, tổ do dẫm lên vết chân người khổng lồ mà sinh”. “Cảm ứng Tô-tem图腾感生” là một hình thức biểu hiện của sự sùng bái Tô-tem, trong xã hội mẫu hệ “thánh nhân đều không cha, cảm ứng trời mà sinh”, người ta không hiểu được bí ẩn của việc mang thai sinh con, đem hiện tượng phồn diễn bộ lạc quy về tác dụng của Tô-tem. Đối tượng sùng bái Tô-tem là vật tự nhiên, phần lớn là động thực vật. Người thời mẫu hệ cho rằng, nếu người phụ nữ trong bộ lạc phát sinh tiếp xúc thần bí với Tô-tem, thì có thể “cảm ứng mà thụ thai”. Cách thức “cảm ứng Tô-tem” của các trinh nữ thời thượng cổ có liên quan đến nguồn gốc Tính cổ, đại khái có mấy loại sau: Một là “lý tích履迹” (dẫm lên vết chân) cảm ứng sinh. Tức trinh nữ tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với Tô-tem hoặc vật phái sinh của nó (vết tích v.v.) mà thụ thai. Như Khương Cơ “dẫm lên vết chân lớn mà có thai”, sinh ra Hậu Tắc (Kinh Thi · Sinh dân). Người Chu vì thủy tổ mẫu Khương Cơ dẫm phải vết chân gấu mà thụ thai, lấy gấu làm Tô-tem, và Tính “Cơ”. Hai là “thôn vật吞物” cảm ứng sinh. Tức trinh nữ vô tình nuốt phải một thứ Tô-tem nào đó dẫn đến thụ thai. “Vũ Tính Tự Thị”, “mẹ Vũ là Tu Kỷ nuốt phải ý dĩ薏苡  mà sinh ra Vũ, nhân đó mà lấy Tính là Tự”. “Mẹ Tiết  nuốt trứng chim én燕卵 mà sinh ra Tiết, cho nên Tính Ân gọi là “Tử” (Luận hành · Kỳ quái thiên). Mẹ của Vũ vì nuốt phải ý dĩ, nên thụ thai sinh ra Vũ, vì vậy người Hạ lấy ý dĩ làm Tô-tem, Tính “Tự”; tổ tiên của người Thương vì thủy tổ mẫu Giản Địch nuốt “tử” (tức trứng) của chim huyền điểu mà sinh ra Tiết, cho nên người Thương lấy chim huyền điểu làm Tô-tem, và Tính “Tử”. Kinh Thi · Thương tụng · Huyền điểu: “Trời sai chim huyền điểu, giáng sinh ra nhà Thương”, chỉ việc này. Ba là “ngộ dị遇异” cảm ứng sinh. Tức trinh nữ tiếp xúc hoặc bị quấy nhiễu bởi hiện tượng Tô-tem quái dị mà thụ thai. Sử chép: “(Hoàng Đế) mẹ là Phù Bảo附宝, đến Kỷ Dã祁野, thấy ánh chớp lớn quấn quanh sao Bắc Đẩu, cảm ứng mà có thai, hai mươi bốn tháng sinh Hoàng Đế ở Thọ Khâu寿丘” (Sử ký chính nghĩa). “Mẹ Nghiêu là Cầu Đô cảm ứng rồng đỏ mà sinh ra Nghiêu”.

Ngoài ra, câu chuyện “cảm ứng sinh” nổi tiếng còn có: Hoa Tư dẫm lên vết chân lớn sinh ra Phục Hy, Nữ Đăng cảm ứng thần long sinh ra Viêm Đế, Nữ Tiết cảm ứng sao băng sinh ra Thiếu Hạo, Nữ Căn cảm ứng cầu vồng sinh ra Chuyên Húc, Cầu Đô cảm ứng rồng đỏ sinh ra Y Kỳ (Nghiêu), v.v.

Thuyết cảm ứng sinh này, trong Thuyết văn đời Hán cũng phản ánh: “Tính là cái người ta sinh ra. Người thánh thần thời xưa, mẹ cảm ứng trời mà sinh con, nên gọi là thiên tử; nhân đó mà sinh ra Tính, từ nữ sinh, lấy sinh làm âm đọc. 姓,人所生也。古之神圣人,母感天而生子,故称天子;因生以为姓,从女生,生亦声” Cho nên, Tính giả, nữ sinh dã. Người phụ nữ thủy tổ nhân gì mà sinh con? “Mẹ cảm ứng trời mà sinh con”, trong đó “trời” là vật dị thường tác động lên người trinh nữ khiến Tính thụ thai, tức Tô-tem. Vì vậy, cái vật trực tiếp dẫn đến việc thủy tổ mẫu thụ thai  Tô-tem, trở thành vật sùng bái chung của bộ lạc, và lấy tên của vật Tô-tem làm ký hiệu tượng trưng mà bộ lạc cùng có, đó là tộc hiệu. “Một Tô-tem ban đầu là dấu hiệu của một bộ lạc, sau là tên của bộ lạc, sau là tên của tổ tiên bộ lạc” (Max Müller Hiến tặng thần thoại Học). Lâu ngày, Tô-tem làm tộc hiệu của các bộ lạc đã diễn biến thành dấu hiệu chung của cùng một Thị tộc là Tính.

(2) Địa danh chuyển hóa và nguồn gốc Tính cổ. Địa danh ở đây, chỉ khu vực cư trú của mẫu hệ. Địa danh chuyển hóa thành Tính, tức căn cứ vào nơi thủy tổ nữ sinh con mà được Tính. Thuyết văn giải tự viết: “Diêu, Ngu Thuấn ở Diêu Hư, nhân đó lấy làm Tính.” “Khương, Thần Nông ở Khương Thủy, nhân đó lấy làm Tính.” Đế vương thế kỷ cũng chép: “Viêm Đế

mẹ Nữ Đăng chơi Hoa Dương, cảm ứng dương mà sinh Viêm Đế ở Khương Thủy.” Lại như Đế Nghiêu, Tính Y Kỳ, nguyên nhân là “khi Nghiêu mới sinh, mẹ ở phía nam Tam A, gửi ở nhà Y Trường Nhụ, cho nên lấy nơi mẹ ở làm Tính”. (Sử ký tác ẩn dẫn Hoàng Phủ Mật vân)

(3) Âm-luật định Tính và nguồn gốc Tính cổ. Đây là từ thuyết ngũ hành gán ghép mà ra. Cố Viêm Võ Nhật tri lục quyển 6 Lấy vợ không cùng Tính nói: “Nguồn gốc của Tính, vốn ở Ngũ Đế. Ngũ Đế được Tính, vốn ở ngũ hành, thì có lý tương phối tương sinh. Cho nên truyện nói: ‘Con cháu Hữu Tung, sẽ nuôi dưỡng ở Khương.’ Lại nói: ‘Cơ Cơ kết đôi, sự sinh sôi ắt phồn Thịnh.’ Mà thuyết ngũ âm tộc Tính sau này, bắt đầu từ đây.” Nghe nói, Tính chính là thánh nhân (bao gồm Hoàng Đế) Âm-luật nghe âm mà phân biệt ra. “Kinh Thi nói: ‘Trời sinh ra đám dân.’ Thượng thư nói: ‘Bình chương bách tính.’ Sở dĩ Tính có trăm, là vì sao? Cho rằng người xưa thánh nhân Âm-luật định Tính, để ghi chép bộ tộc của mình. Người ta mang ngũ thường mà sinh, chính thanh có năm, cung, thương, giốc, chủy, vũ, chuyển hóa lẫn nhau, năm năm hai mươi lăm, chuyển hóa sinh ra bốn mùa khí khác nhau, âm thanh khác nhau đều đủ, cho nên Tính có trăm vậy.” “Thánh nhân khởi lên, không biết Tính mình, nên Âm-luật định thanh, để phân biệt Tính mình.” Dịch sử dẫn Thị loại mưu. Nghe nói “Khổng Tử Âm-luật, tự biết mình là hậu duệ nhà Ân”. Thuyết Âm-luật định Tính đến đời Hán thì càng được hệ thống hóa, lý luận hóa, và kết hợp với bói toán, cTínhn nhà ở. Thuyết này có nhiều nghi vấn, nhưng dân gian lưu truyền rất rộng.

Những điều trên đã bàn, là nguồn gốc chính của Tính ở các bộ lạc nguyên thủy. Đủ thấy, nguồn gốc của Tính rất đa dạng, và liên quan đến nhiều sự vật trong đời sống bộ lạc. Sự biến hóa của Tính-Thị, có cái bắt nguồn từ cùng một huyết thống, cũng có cái bắt nguồn từ huyết thống khác nhau. Cùng huyết thống điển hình nhất là Tính Cơ của tộc Chu, theo thống kê, đã phân hóa ra 198 Tính. Ngoài ra, còn có những nguồn gốc Tính khác mà chúng ta có lẽ chưa biết đến, thì cần chờ đợi sự khảo chứng thêm.

2. Nguồn gốc của Thị

Nếu nói Tính là ký hiệu tượng trưng chung của những người cùng thủy tổ nữ, có cùng quan hệ huyết thống mẫu hệ, thì Thị là ký hiệu tượng trưng của các chi nhánh bị tách ra từ cùng một thủy tổ phụ hệ, do các thủy tổ khai sáng ra. Thông giám · Ngoại kỷ nói: “Tính là cái thống nhiếp cái nguồn gốc của tổ tiên; Thị là cái phân biệt con cháu của mình.” Do nhân khẩu phồn diễn, một Thị tộc có thể sinh ra nhiều tiểu Thị tộc, vì vậy Tính vốn là dấu hiệu của một Thị tộc, mở rộng thành dấu hiệu chung của các Thị tộc cận thân. Cho nên chỉ có tên Thị tộc - Tính, không đủ để phân biệt chi tiết thân phận của các thành viên trong Thị tộc. Vì vậy, một tên gọi khác có thể xác định thêm thành viên Thị tộc thuộc chi nhánh nào - Thị, liền sinh ra.

Thị vốn là tên của các bộ lạc, sau chỉ chuyên cho thủ lĩnh bộ lạc. Do quốc gia xuất hiện, bắt đầu thiết lập các quan chức, mỗi người giữ một chức vụ, các chức quan được đặt ra cũng trở thành tên của Thị. Lúc này Thị đại diện cho thân phận và địa vị của một người, chỉ có quý tộc mới có. Phong ấp và chức quan thời cổ có truyền thống thế tập, Thị cũng có thể thế tập. Từ đó, Thị bắt đầu trở thành dấu hiệu của gia tộc. Nguồn gốc chính của Thị có:

(1) Lấy tên nước làm Thị. Thiên tử phân phong một chư hầu quốc, chư hầu quốc đó lấy tên nước đó làm Thị. Phương thức lấy Thị này phần nhiều bắt nguồn từ thời Chu. Chủ yếu có hai loại đặt tên: Thứ nhất, nước phong cùng Tính với vương thất. Như em của Chu Vũ Vương là Cơ Phong phong ở nước Vệ, con thứ của Chu Vũ Vương là Cơ Ngu phong ở nước Tấn, con của Chu Công Đán là Cơ Bá Cầm phong ở nước Lỗ. Lấy nước làm Thị, Cơ Phong trở thành thủy tổ của Tính Vệ, Cơ Ngu là thủy tổ của Tính Tấn, Cơ Bá Cầm là thủy tổ của Tính Lỗ. Ngoài ba nước lớn Vệ, Tấn, Lỗ, lại phong nhiều nước nhỏ cùng Tính. Lấy tên nước của các nước cùng Tính (Cơ) nhà Chu làm Thị, có tất cả 49 Thị. Trong 49 Thị này, vì nhiều nguyên nhân có Thị lại chia làm hai Thị, càng làm mở rộng đội ngũ Thị. Thứ hai, các thần thuộc khác Tính với vương thất được phong nước. Một là các thần thuộc khác Tính có công với triều đương thời. Như Thái sư Tính Khương là Lã Thượng phò tá nhà Chu diệt Thương, được phong nước Tề. Hai là hậu duệ của triều trước. Như hậu duệ nhà Hạ là Đông Lâu Công (Tính Tự) phong nước Kỷ, con cháu lấy Kỷ làm Thị; vua nhà Thương phong cho anh em của vua Trụ là Vi Tử Khải làm nước Tống, con cháu lấy Tống làm Thị. Loại lấy tên nước mà được Thị này có 64 Thị. Ngoài ra, lấy tên nước làm Thị, theo phân loại của Trịnh Tiều trong Thông chí · Thị tộc lược, còn có mấy loại khác. Nhưng giới hạn khuôn khổ, xin không liệt kê hết.

(2) Lấy đất phong làm Thị. Chế độ phân phong nhà Chu chia quý tộc thành năm đẳng tước “Công, Hầu, Bá, Tử, Nam”; đồng thời, còn có “năm đẳng phong”: nước Hầu, ấp Hầu, Quan Nội Hầu, hương Hầu, đình Hầu. Điều này đã có nhiều Thị mới lấy tên đất ấp, quan, hương, đình làm Thị. Lấy ấp làm Thị. Ấp là ruộng đất trong vương kỳ của thiên tử Chu phân cho quý tộc, và ruộng đất của các chư hầu quốc ban cấp cho con cháu làm quý tộc để hưởng bổng lộc đời đời. Con cháu của các quý tộc này hoặc những người sống ở những nơi đó lấy tên ấp làm Thị. Như Tề Hoàn Công đem thành Bảo phong cho đại phu Thúc Nha làm ấp, lấy ấp làm Thị, Thúc Nha được gọi là Bảo Thúc Nha. Lấy quan làm Thị. Tức lấy ấp Quan Nội làm Thị. Như Tính Phàn, con cháu của Ngu Trọng, con thứ của Chu Thái Vương, là Trọng Sơn Phủ làm khanh sĩ đời Chu Tuyên Vương, ăn lộc ở đất Phàn, nhân ấp Quan Nội mà có Thị. Lấy đình làm Thị. Như con cháu của Câu Tiễn vua Việt, dòng thứ phong ở Âu Dương Đình, huyện Ô Trình, con cháu lấy Âu Dương làm Thị, v.v.

(3) Lấy nơi cư trú làm Thị. Có người được phong đất, lấy tên đất phong làm Thị; không có đất phong, thì lấy đặc điểm địa thế nơi Tính ở làm Thị. Có là tên đất, tên núi, tên sông, tên gò, có là tên phương hướng. Như con của Lỗ Trang Công là Công Tử Toại, tự Tương Trọng, ở cửa đông của kinh đô, hiệu Đông Môn Tương Trọng, con cháu có người lấy Đông Môn làm Thị. Các đại phu Tính-Thị của nước Tề lần lượt ở các quận đông, tây, nam, bắc của kinh đô, bốn quận đó cũng trở thành Thị. Có người như ở trong rừng sâu núi già cây cối rậm rạp, thì gọi là “Lục Vệ Thị”, như ở nơi phong cảnh đẹp đẽ thì gọi là “Khỉ Lý Thị”.

(4) Lấy tên tự làm Thị. Đời Chu, con của chư hầu gọi là công tử, con của công gọi là công tôn, con của công tôn không được gọi là công tôn nữa, không được dựa theo dòng dõi chư hầu, phải lập một Thị mới. Lập Thị thì truy ngược tổ tiên, lấy tên tự của tổ làm Thị. Như con của Tống Hoàn Công tên là Công Tử Mục Di, tự Tử Ngư, con ông là Công Tôn Hữu, cháu ông thì gọi là Ngư Doanh, Ngư Thạch. Còn có loại không dùng chữ của tổ mà dùng chữ của cha hoặc của người bậc cha làm Thị. Như con của Công Tử Toại tên là Công Tôn Quy Phụ, tự Tử Gia, con cháu ông đều lấy “Tử Gia” làm Thị.

(5) Lấy tên làm Thị. Lấy tên làm Thị đại khái có hai loại: Một là ông nội (tổ) của huyền tôn chư hầu chỉ có tên mà không có chữ, thì lấy tên của ông nội làm Thị. Như con của Lỗ Hiếu Công tên là Công Tử Triển, con của Công Tử Triển là Công Tôn Bá Di, cháu ông gọi là Triển Vô Hãi, Triển Cầm. Một là tổ tiên vừa có tên vừa có tên tự, nhưng con cháu lấy tên làm Thị. Như Ngũ Viên, tự Tử Tư, con cháu lấy Viên làm Thị. Ngoài ra, còn có hai cách lấy tên làm Thị đặc biệt. Một là con cháu của vua chúa được Thị. Con của vua gọi là vương tử, con của vương tử gọi là vương tôn, con của vương tôn lấy tên hoặc Thị của ông nội làm Thị. Như Chu Cảnh Vương tên Cơ Quý, con là Vương Tử Triều, con cháu lấy Triều làm Thị. Một là cách lấy Thị “lấy danh Thị làm Thị”. Như Sĩ Quý Thị, con của Tính Sĩ nước Tấn thời Xuân Thu tên là “Sĩ Quý”, “Sĩ” là Thị, “Quý” là tên, con của Sĩ Quý là Oát Trọc lấy Thị và tên của cha làm Thị.

(6) Lấy thứ tự, tộc làm Thị. Thứ là thứ bậc, tức theo quan hệ trưởng ấu giữa anh em làm Thị. Như Bá Thị, Mạnh Thị, Thúc Thị. “Tộc” và “thứ” có ý nghĩa hơi giống nhau, tộc dùng để phân biệt với “Thị” trong Tính-Thị, chủ yếu là dùng cái gần gũi để phân biệt với cái xa vời, dùng cái hẹp hơn để phân biệt với cái rộng lớn, v.v. Như Tổ Thị, Di Thị, dùng để phân biệt đời trước, đời sau; Đệ Ngũ Thị, Đệ Bát Thị, dùng để phân biệt thứ tự cư trú; Nam Công Thị, Nam Bá Thị, dùng để phân biệt các cấp bậc khác nhau của cùng một danh xưng; Tính Hàn có Hàn Dư Thị, Tính Phó có Phó Dư Thị, dùng để phân biệt con trưởng và con thứ, v.v.

(7) Lấy thụy hiệu làm Thị. Quý tộc đời Chu khi sống được phong tước vị, khi chết có thụy hiệu, dùng để khen chê công tội của Tính. Thụy hiệu này cũng được dùng làm Thị cho con cháu. Có mấy trường hợp: Một là trực tiếp lấy thụy hiệu làm Thị. Như Sở Trang Vương thụy hiệu là “Trang”, con cháu lấy “Trang” làm Thị. Hai là lấy ấp thụy làm Thị. Tức lấy thực ấp và thụy hiệu làm Thị. Như Khổ Thành Thị, phong ấp của nước Trần thời Xuân Thu là Khổ, ở nay Hà Nam, khi chết thụy “Thành”, con cháu lấy “Khổ Thành” làm Thị, sau do âm chuyển, đổi thành “Cổ Thành”. Ba là lấy Thị thụy làm Thị, tức lấy thụy hiệu và Thị làm Thị. Như Nhan Thành Thị, sau Lâu Nhan nước Trịnh thời Xuân Thu có người thụy “Thành”, con cháu lấy đó làm Thị, ở đây “Nhan” là Thị, “Thành” là thụy. Bốn là lấy tước thụy làm Thị. Tức lấy tước vị khi sống và thụy hiệu khi chết làm Thị. Như Thành Công Thị, Thành Vương Thị. “Công”, “Vương” là tước vị, “Thành” là thụy hiệu.

(8) Lấy quan tước làm Thị. Tức lấy tên chức quan hoặc tước vị làm Thị. Như Cao Dao咎繇  là quan lý  (quan tư pháp) của Nghiêu, nhân quan mà đặt Thị, là Lý Thị, sau đổi Lý thành Lý . Hậu duệ của Bành Tổ là Phu , làm quan thượng sĩ coi kho tiền đời Chu, chuyên quản lý tiền bạc, con cháu lấy quan làm Thị, tức là Tiền Thị. Đó là lấy tên quan làm Thị, còn có lấy tên tước vị làm Thị. Như Hoàng, Vương, Công, Bá, Hầu, Vương Thúc, Vương Tử, Vương Tôn v.v.

(9) Lấy nghề làm Thị. Tức lấy nghề nghiệp đang làm làm Thị. Như người hành pháp thuật thì con cháu là lấy “Vu ” Thị, người giết mổ trâu bò thì con cháu gọi là “Đồ” Thị, người chuyên bói toán, con cháu gọi là “Bốc” Thị, con cháu thợ thủ công gọi là “Tượng” Thị. Còn có Tần Long Thị, Ngự Long Thị, Can Tương Thị, v.v.

(10) Lấy sự việc làm Thị. Tức căn cứ vào một sự kiện đặc biệt mà lấy làm Thị, có ý nghĩa kỷ niệm. Như vua Chu Mục sủng ái Thịnh Cơ, nàng mất trẻ, tỏ lòng thương tiếc, đặc biệt đổi tộc thành Thống Thị. Lại như nhà Hạ, thời Tương Vương, xảy ra binh biến, Tương bị giết, phi tử của ông đang có thai “chạy trốn qua cửa hang 逃出自窦” (tức từ trong lỗ hổng mà chạy thoát), sinh ra con là Thiếu Khang. Con cháu của Thiếu Khang bèn lấy “Đậu ” làm Thị.

(11) Lấy ác đức, cát đức làm Thị. Tức lấy việc có đức hạnh hoặc ác hạnh rõ rệt làm Thị, dùng để khen hoặc chê. Như nước Tấn có Triệu Thôi 赵衰, dân chúng rất ủng hộ ông, ông đối đãi người như mặt trời mùa đông ấm áp, con cháu ông được gọi là “Đông Nhật Thị”. Lại như Anh Bố, chư hầu thời Tây Hán, vì có tội bị xử thích chữ lên mặt, con cháu ông là Tính “Kình”.

(12) Lấy Tính làm Thị. Đây lấy dấu hiệu của các bộ lạc thời thượng cổ làm Thị. Những Thị này phần lớn liên quan đến các vị vua hoặc nhân vật thần thoại truyền kỳ, như Y Kỳ伊祁 Thị, lấy từ Tính của Nghiêu (Nghiêu Tính Y Kỳ). Cách lấy Thị này rất giống với lấy đất làm Thị.

Trên đây đã giới thiệu, là nguồn gốc chính của Thị. Thị chủ yếu sản sinh ra đời Chu, là sản phẩm trực tiếp của chế độ tông pháp và chế độ phân phong. Số lượng “Tính” thời thượng cổ rất ít, “thấy trong kinh Xuân Thu, được 22 cái”. Thị thì nhiều hơn nhiều, trong văn hiến thời Xuân Thu Chiến Quốc thường thấy có hơn 600 Thị. Vì Tính là dấu hiệu của thân thuộc huyết thống, cá nhân không có quyền thay đổi và tự tạo; Thị là chi nhánh của Tính, là tên đặc hữu của từng chi nhánh, có thể tự lập và thay đổi. Một Tính có thể phân hóa ra nhiều Thị, mà con cháu của cùng một Thị còn có thể phân hóa ra các Thị khác nhau, thậm chí cùng một người trước sau cũng có thể có Thị khác nhau. Như thương nhân thời Chiến Quốc là Thương Ưởng, do là con cháu của dòng dõi vua nước Vệ, cho nên còn gọi là Vệ Ưởng, Công Tôn Ưởng. Cho nên, nguồn gốc Thị so với nguồn gốc Tính, tỏ ra phức tạp hơn nhiều. Phát triển đến nay, Thị đã trở thành nguồn gốc chính của “Tính ngày nay”.

III. Hợp nhất Tính-Thị

Đời Chu Tính-Thị có phân biệt, theo Tả truyện có thể biết, chế độ Tính-Thị phân biệt này vẫn duy trì đến cuối thời Xuân Thu chưa thay đổi. Nhưng đến thời Chiến Quốc, đã xuất hiện biến hóa mới. Chế độ tông pháp phong kiến suy sụp, quý tộc Thị tộc tan rã, địa vị bình dân được nâng cao, xưng Thị không còn là đặc quyền của quý tộc, bình dân cũng có Thị. Khi Thị mất đi tác dụng “phân minh sang hèn”, nó trở thành dấu hiệu quan trọng để phân biệt người với người. Từ đó, Thị thay thế địa vị của Tính trước kia, xuất hiện tình trạng Tính-Thị không phân hoặc nói Tính-Thị hợp nhất. Đến đời Hán thì gọi chung là Tính. Vậy rốt cuộc Tính-Thị đã từ “có phân biệt lẫn nhau” đến “hòa làm một thể” như thế nào?

1. Nguyên nhân chủ quan:

(1) Điều cấm “cùng Tính không lấy nhau” bị phá vỡ. Trước thời Xuân Thu, Tính là dấu hiệu huyết thống của tổ chức Thị tộc. Một tác dụng quan trọng của Tính là “biệt hôn nhân”, tức duy trì chế độ “cùng Tính không lấy nhau”. Có nghĩa là, trước thời Xuân Thu, khi quan hệ huyết thống giữa những người cùng Tính còn rất mật thiết, thì “cùng Tính không lấy nhau” có ý nghĩa. Nhưng, đến thời Xuân Thu sau nhiều năm, quan hệ huyết thống mà Tính đại diện, trên thực tế đã khá xa vời, lúc này lại dùng Tính để ràng buộc phạm vi thông hôn, thì tỏ ra không thích hợp. Vì vậy, đến thời Xuân Thu, đã xuất hiện nhiều trường hợp cùng Tính thông hôn. Như Tả truyện chép, nước Tấn, Vệ, Ngô, Lỗ cùng Tính Cơ, nhưng việc thông hôn giữa bốn nước rất thường xuyên. Điều đáng chú ý là, tuy cùng Tính thông hôn thời Xuân Thu nhiều, nhưng đều diễn ra giữa các gia tộc khác nhau, tức giữa các “Thị” khác nhau, lúc này, tuyệt không có hiện tượng cùng “Thị” thông hôn.

(2) Quan niệm “cùng Tính thân thiện” bị bỏ rơi. “Cùng Tính thân thiện”, người cùng Tính giúp đỡ lẫn nhau, là một chức năng quan trọng khác của Tính. Nhưng bước vào thời Xuân Thu, khi mối quan hệ huyết thống xa xôi xung đột với lợi ích hiện thực, người ta ít nghĩ đến tình cảm cùng Tính, quan niệm cùng Tính thân thiện cũng dần bị bỏ rơi. Như nước Tấn từng tiêu diệt các nước nhỏ cùng Tính như Ngu, Quắc, Tiêu, Hàn. Dĩ nhiên, quan niệm giúp đỡ lẫn nhau theo huyết thống trong cùng gia tộc vẫn được nghiêm chỉnh tuân thủ. Theo Chu lễ · Địa quan · Điều nhân chép: “Thù cha, đuổi ra ngoài biển; thù anh em, đuổi ra ngoài ngàn dặm; thù anh em Tính hàng, không cùng nước.”

Hai điểm trên chứng tỏ, quan hệ huyết thống xa xôi mà Tính vốn đánh dấu, đã không còn được mọi người công nhận, trong ý muốn của người đương thời, quan hệ huyết thống do “Tính” đại diện nên được đồng nhất với quan hệ huyết thống do “Thị” đại diện, sự hợp lưu của Tính và Thị, trở thành điều cần thiết.

2. Nguyên nhân khách quan:

(1) Chế độ tông pháp suy vong. Loạn chiến khiến nhiều quý tộc bị suy vong mà giáng xuống thành thứ dân, vua mất Thị, đương nhiên không thể nào thi hành được cái lễ chế tông pháp đại tông tiểu tông của nhà Chu trước kia. Chế độ Tính-Thị đối với vua nước mất, tộc bị diệt không còn ý nghĩa lớn. Năm 221 trước Công nguyên, Tần diệt sáu nước, sau đó Hán lại thống nhất thiên hạ, chế độ Tính-Thị vốn là dấu hiệu quan trọng duy trì chế độ tông pháp nhà Chu cũng theo đó mà tiêu vong.

(2) Sự xuất hiện của bình dân quý tộc. Trong biến động hỗn loạn, một số bình dân trước kia không được “ban Tính ban Thị” trở thành tân quý tộc, địa vị thay đổi khiến Tính-Thị

của Tính cũng thay đổi theo. Những quý tộc được chuyển hóa từ bình dân này, đương nhiên không thèm tuân theo chế độ Tính-Thị cũ, ngược lại còn phá hoại chế độ Tính-Thị cũ. Điều này thúc đẩy sự xuất hiện chế độ Tính-Thị mới: lấy Thị làm Tính, Tính-Thị lẫn lộn, Tính-Thị hợp nhất.

(3) Chế độ quận huyện được thực hành. Cuối thời Chiến Quốc, Tần Thủy Hoàng thống nhất thiên hạ, lấy “chế độ quận huyện” thay thế “chế độ phân phong”. Sự tiêu vong của chế độ phân phong khiến “Thị” vốn đại diện cho quý tộc mất đi ý nghĩa, Thị chỉ còn lại tác dụng ký hiệu đánh dấu dòng máu trực hệ, không còn ý nghĩa và cần thiết để phân biệt với “Tính” vốn dùng để “biệt hôn nhân”.

Từ đời Tần trở đi, Tính và Thị hợp nhất thành một, Tính-Thị không còn phân biệt, vua chúa, bình dân đều có quyền có Tính. Sau khi Tính-Thị hợp nhất, so với Tính-Thị cũ, có những đặc điểm sau: Một là tất cả Tính và Thị cũ đều không phân biệt mà trở thành ký hiệu huyết thống trong chế độ Tính mới. Tính chính là Thị, Thị chính là Tính, bất luận là “Tính”, “Thị”, hay “Tính-Thị”, ý nghĩa của ba thứ đã không còn khác biệt. Hai là do Tính mới xuất hiện sau khi hợp lưu phần nhiều là do Thị trước kia chuyển hóa mà thành, nên cùng Tính lúc này chưa chắc đã có quan hệ huyết thống. Ba là sau khi Tính-Thị hợp nhất, không phân biệt nam nữ, tên gọi cá nhân đều xuất hiện dưới hình thức “Tính mới + tên”. Như phi tử của Sở Hoài Vương tên “Trịnh Tụ”; Chiến Quốc sách · Tần sách ngũSử ký · Tần bản kỷ đều đề cập đến em trai của mẹ vua Tần Thái hậu có tên là Phi Nhung, “Phi” vốn là Tính của nước Sở.

Hợp nhất Tính-Thị là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử văn hóa Tính-Thị Trung Quốc, nó có ý nghĩa lịch sử và nội hàm văn hóa quan trọng, đánh dấu Tính-Thị từ vua chúa quý tộc đi đến bình dân bách tính. Từ đó, Tính và Thị có thể gọi chung, vua chúa bình dân đều có Tính-Thị, và mỗi gia tộc đều có Tính-Thị cố định của mình, con cháu đời đời thừa kế.

3. Sự thay đổi Tính-Thị

Tính-Thị từ ban đầu “Tính-Thị có phân biệt” phát triển đến sau Tần Hán “Tính-Thị hợp nhất”, trong đó trải qua một quá trình phức tạp và dài lâu. Mà sau khi “Tính-Thị hợp nhất”, hiện tượng “thay đổi Tính-Thị” xảy ra, là một nguyên nhân quan trọng khiến Tính-Thị Trung Quốc trở nên phức tạp. Hiện tượng “thay đổi Tính-Thị”, chủ yếu có:

  1. Đổi qua lại giữa Tính Hán và Tính Hồ.

Tức người Hán và các dân tộc thiểu số đổi Tính cho nhau. Có hai trường hợp:

(1) Tính Hồ được Hán hóa.

Các dân tộc thiểu số đổi Tính sang Tính Hán. Một là nhà cầm quyền Hán ban Tính đổi Tính cho dân tộc thiểu số hoặc dùng biện pháp hành chính thúc đẩy Tính Hồ Hán hóa. Như Hán Vũ Đế ban cho thái tử Nhật Đê của vua Hung Nô tu duyên Tính “Kim”; lại như, Chu Nguyên Chương từng ra chiếu cấm y phục Hồ, tiếng Hồ, Tính Hồ, không ít Tính kép của dân tộc thiểu số đều đổi thành Tính đơn, Hô Diên đổi Hô, Khất Phục đổi Cật v.v., kể cả Tính kép thời Xuân Thu cũng đổi thành Tính đơn. Hai là nhà cầm quyền dân tộc thiểu số tiếp nhận văn minh của dân tộc Hán, chủ trương Hồ đổi sang Tính Hán. Ví dụ nổi tiếng nhất là Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế ra chiếu đổi Tính Tiên Ti sang Tính Hán. Như vậy, không nghi ngờ gì đã thúc đẩy sự dung hợp dân tộc và Hán hóa Tính Hồ. Ba là để thích ứng với sự thay đổi của thời đại và môi trường xã hội mà đổi sang Tính Hán. Như việc đổi Tính của người Mãn Châu thời cận đại, Ái Tân Giác La đổi thành Tính Kim, La, Triệu, Đức, Hồng, Y, Hải v.v., Mã Giai Thị đổi thành Tính Mã, Diệp Hách Na Lạp Thị đổi thành Tính Diệp hoặc Na v.v.

(2) Tính Hán bị Hồ hóa.

Trường hợp này, tương đối mà nói, ít hơn. Ví dụ nổi tiếng nhất xảy ra ở Bắc Chu, Vũ Văn Giác xưng đế sau, tôn sùng thói quen dân tộc mình, lấy rợ làm sang, đổi Tính Hán sang Tính Tiên Ti. Như đổi Tính Thái thành Đại Sử Kê Thị, Tính Trương thành Xuyết La Thị. Ngoài ra, một số nhà cầm quyền dân tộc thiểu số khác cũng ban Tính ban tên cho người Hán. Như hoàng đế nhà Liêu từng lấy quốc tính “Da Luật” ban cho các thần Hán được sủng ái; người Mông Cổ từ thời Thành Cát Tư Hãn, đã ban tên Mông Cổ cho người Hán có công.

Cho dù Tính Hán bị Hồ hóa, hay Tính Hồ được Hán hóa, đều đã thêm thắt nội dung và nhân tố văn hóa mới cho Tính-Thị của dân tộc Trung Hoa, có ảnh hưởng quan trọng đến việc phát triển văn hóa Tính-Thị Trung Hoa, làm phong phú nội hàm văn hóa Tính-Thị Trung Hoa.

  1. Vua ban Tính. Đây là một nguyên nhân quan trọng khiến người xưa đổi Tính. Vua ban Tính cũng có thể chia làm hai trường hợp: (1) Khen thưởng thần thuộc, để tỏ sự sủng ái. Tính được ban chia làm hai loại: Một là ban quốc tính, tức cùng Tính với hoàng tộc, đó là biểu Thị sự tưởng thưởng cao nhất của vua đối với người được ban. Như chú của Hạng Vũ là Hạng Bá vì có công cứu mạng Lưu Bang trong tiệc Hồng Môn, được ban Tính Lưu. Hai là ban Tính khác. Như thời Tào Ngụy, con cháu của Lý Lăng có người từ Hung Nô về Ngụy, vì được tiếp kiến ở điện Tây, ban Tính “Bính”. (2) Giáng chức thần thuộc để trừng phạt. Loại ban Tính này thường là những chữ có nghĩa xấu, không lành. Như Nam Tề Vũ Đế vì ghét con cháu cùng Tính là Tiêu Tử Tương làm phản, ban Tính “Lạp” (sáp).
  2. Kiêng húy đổi Tính. “Kiêng húy đổi Tính” cũng là một nhân tố quan trọng khiến Tính-Thị Trung Quốc trở nên phức tạp. Nhà cầm quyền phong kiến để duy trì tôn nghiêm của mình, không cho phép người khác sử dụng những chữ có hình thức hoặc âm đọc giống với tên của Tính, nếu có thì phải kiêng tránh, thay đổi. Như Tính Khuông đời Bắc Tống, để kiêng húy Triệu Khuông Dận, đổi thành “Chủ”, đến đời Tống Huy Tông, Triệu Cát cho rằng bách tính Tính Chủ không ổn, cấm thiên hạ không được xưng Chủ và Quân, rồi lại đổi thành “Khang”. Lại như, Hán thư kiêng húy Hán Minh Đế Lưu Trang, đổi “Trang Tử” thành “Nghiêm Tử”.
  3. Tránh họa đổi Tính. Nguyên nhân tránh họa đổi Tính rất đa dạng, có do chiến tranh thất bại mà sợ tội đổi Tính, có do tránh chiến loạn mà đổi Tính, có do tránh kẻ thù mà đổi Tính, có do cùng tộc cùng Tính có người phạm tội, sợ bị liên lụy mà đổi Tính… Sự đổi Tính như vậy, tổng không quên tổ tông, không nỡ cắt đứt huyết thống tông thân, Tính mới đổi thường có một mối liên hệ đặc biệt nào đó với Tính cũ. Có loại là bớt thêm nét chữ của Tính cũ, như Hàn Tín đời Tây Hán bị Lã Hậu giết, con ông chạy đến Nam Việt, lấy một nửa chữ Hàn , đổi thành Tính Vi. Có loại lấy chữ đồng âm hoặc gần âm với Tính cũ, như con cháu Văn Thiên Tườngđời Nguyên đầu chạy đến Kỳ Thủy Vĩnh Phúc Hương, đổi Tính thành Văn. Có loại đổi Tính kép thành Tính đơn, như con cháu của Đoan Mộc Tứ端木赐, Học trò Khổng Tử, vì tránh kẻ thù đổi thành Tính thành Mộc, cũng có người đổi Tính thành Mộc. Còn có lấy tên hoặc tước hiệu của tổ tiên làm Tính. Như hiệp khách thời Chiến Quốc Điền Quang, bày mưu cho Kinh Kha đâm Tần Vương, sau khi Tần diệt nước Yên, con cháu Điền Quang đổi Tính Điền thành Tính Quang; lại như, sau khi Tống diệt Nam Đường, con trai của Đặng Vương nước Nam Đường là Lý Thiên Hòa may mắn thoát được, lấy tước hiệu của cha là “Đặng” làm Tính.
  4. Xu hướng vinh hoa đổi Tính. Đây là hành vi xu phụ quyền thế. Như thời Đường Tuyên Tông, Lệnh Hồ Đào làm tể tướng, nhiều người xu phụ, kết thân liên tông, có người Tính Hồ thêm chữ “Lệnh” vào Tính, biến thành Tính kép “Lệnh Hồ”.
  5. Tránh xấu hổ đổi Tính. Tức xấu hổ vì cùng Tính với người nào đó nên đổi Tính. Như thượng thư nhà Đường An Bảo Ngọc vì xấu hổ cùng Tính với tên phản tặc An Lộc Sơn, xin đổi Tính, Đường Huyền Tông ban ông Tính “Lý”.
  6. Tránh bị chê cười đổi Tính. Tức để khỏi bị người ta chê cười mà đổi Tính. Như thời Tam Quốc có người tên Thị Nghi, Khổng Dung từng cười nói: “Thị là chữ Dân thiếu một nét trên đầu, dân không đầu còn ra gì, có thể đổi thành Thị.” Thị Nghi thấy có lý, bèn đổi Tính là “Thị”.
  7. Tính kép chuyển thành Tính đơn. Tức đổi Tính kép thành Tính đơn. Như Âu Dương biến thành Âu, Dương; Tư Mã biến thành Tư, Mã; Chung Ly biến thành Chung.
  8. Do âm sai mà đổi Tính. Do phương ngữ miền Nam và miền Bắc Trung Quốc khác biệt lớn về cách đọc, lâu ngày ảnh hưởng đến Tính. Như thời Tam Quốc có Giản Ung, vốn Tính Canh, người U châu đọc Canh là Giản, Canh Ung thành Giản Ung.
  9. Tỉnh lược chữ viết mà đổi Tính. Tức lược viết bộ thủ hoặc một phần nét chữ của Tính cũ, thành Tính mới. Có người viết Tính thích lược bớt bộ thủ hoặc nét chữ của Tính cũ, lâu dần, Tính mới xuất hiện. Như Thiệu đổi thành Triệu, Quách đổi thành Chương, Đàm đổi thành Tần, Hùng đổi thành Năng.
  1. Nhận nuôi đổi Tính. Do nhận nuôi người khác nên đổi theo Tính mới. Trường hợp này, nay cũng thường thấy. Như nhà Trương đông con, nhà Lý không có con, nhà Trương cho nhà Lý một người con nuôi, người con này từ đó đổi thành Tính Lý.

Hiện tượng thay đổi Tính-Thị đã làm phong phú rất nhiều số lượng, chủng loại Tính-Thị của dân tộc Trung Hoa, cũng khiến sự hình thành và nguồn gốc của Tính-Thị dân tộc Trung Hoa càng thêm phức tạp và đa dạng. Những Tính mới có được do đổi Tính này cùng với Tính cổ, Thị cổ vốn có đã cấu thành rất nhiều Tính-Thị của Trung Quốc ngày nay.

IV. Tổng kết

Tính-Thị trải qua quá trình lịch sử lâu dài biến hóa phát triển, đến nay, Trung Quốc rốt cuộc có bao nhiêu Tính-Thị? “Từ sử sách, văn tập, gia phả, tiểu thuyết, chí địa phương, sách thuốc” (Tính-Thị tầm nguyên: Lời nói đầu) khảo sát, các sách về Tính-Thị trong lịch sử, từ Thế bản bắt đầu, có Vương Phù Chí Thị tính, Ứng Thiệu Phong tục thông · Tính-Thị thiên, Lâm Bảo Nguyên hòa tính toản, cũng như Cấp tựu thiên, Thông chí · Thị tộc lược v.v., xuất hiện không ngừng. Theo thống kê chưa đầy đủ, các sách về Tính-Thị qua các đời thu thập số lượng Tính-Thị Trung Quốc như bảng sau:

Bảng thống kê số lượng Tính-Thị Trung Quốc trong sử sách

Thời đại

Người biên tập

Tên sách

Số họ (Tính Thị)

Tây Hán西汉

Sử Du史游

《急就篇》Cấp tựu thiên

130

Đông Hán东汉

Ứng Thiệu应劭

Phong tục  thông · Tính thị thiên风俗通姓氏篇

Hơn 500

Thời Đường唐代

敕撰

大唐氏族志

293

 

林宝

元和姓纂

Hơn 1400

 

钱塘老儒

百家姓

468

宋代

郡思

姓释

2568

 

郑樵

通志·氏族略

 

明代

陈士元

姓镌

3625

 

王圻

续文献通考

4657

清代

张澍

姓氏五书

5129

 

台湾

中国姓氏集

5600

现代

阎福卿

中国姓氏汇编

5730

 

窦学田

中华古今姓氏大辞典

12000

 

Từ bảng trên có thể thấy, Tính-Thị Trung Quốc xưa nay khoảng 6000 cái, nếu bao gồm cả những Tính rất hiếm và đã mất, tổng số vượt quá vạn. Trong dân tộc Hán, có 87% người chỉ dùng 100 Tính thường dùng, nghĩa là trong 1,1 tỷ dân, có khoảng 950 triệu người chỉ dùng 100 Tính. Trong 100 Tính này, 19 Tính lớn như Lý, Vương, Trương, Chu, Lưu, Trần, Dương v.v. chiếm 55,6% dân số Hán. Mà ba Tính “siêu lớn” đứng đầu là Lý, Vương, Trương, chiếm 22,4% dân số Hán. Nghĩa là, toàn quốc có khoảng 250 triệu người dùng ba Tính này.

Mấy ngàn năm qua, Tính-Thị của người Trung Quốc luôn giữ vai trò phân biệt hôn nhân, phân định sang hèn, phân biệt thân sơ, đoàn kết người cùng Tính, củng cố gia tộc tông pháp chế. Đó là quan hệ huyết thống, sợi dây tinh thần và dấu hiệu truyền thừa văn hóa của gia tộc tông pháp truyền thống “bốn đời cùng ở, năm đời Thịnh vượng”. Nhưng, cùng với sự phát triển của lịch sử và sự tiến bộ của xã hội, chế độ văn hóa Tính-Thị cũng không ngừng biến hóa, nhiều Tính-Thị cũ đã không còn tồn tại, mà nhiều Tính-Thị mới cũng lặng lẽ xuất hiện. Đặc biệt đến ngày nay, Tính-Thị không còn ý nghĩa xã hội đặc biệt nào, chỉ là một ký hiệu cá nhân mà thôi. Quan niệm Tính-Thị bắt đầu nhạt nhòa, tập tục con theo Tính cha cũng thay đổi. Con cái có thể theo Tính cha, cũng có thể theo Tính mẹ, hoặc lấy cả Tính cha mẹ làm tên, thậm chí lấy một Tính mới khác. Như năm 1991 báo Tạp chí Báo văn trích ở Thượng Hải đăng, ở Tô Châu có đứa trẻ Tính “Điểm”, vì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại của nó có Tính khác nhau, bố mẹ đứa trẻ đều là con một, cả nhà bàn bạc, đứa trẻ lấy Tính “Điểm”. Bốn chấm dưới chữ Điểm tượng trưng cho bốn Tính của cả nhà, chữ “Chiếm” trên chấm, chỉ đứa trẻ này (bốn Tính) chiếm hữu. Xã hội hiện đại cũng không còn lấy Tính-Thị, môn đệ, gia tộc để quyết định địa vị xã hội của con người. Cho nên, ngày nay chức năng xã hội của Tính-Thị đã dần thu nhỏ, biến thành ký hiệu cá nhân đơn thuần.

Tóm lại, nguồn gốc và sự phát triển của Tính-Thị Trung Quốc rất xa xưa. Trong thời thượng cổ, “Tính” và “Thị” vốn là hai khái niệm khác nhau. Tính bắt nguồn từ công xã Thị tộc mẫu hệ, “Thị” là chi nhánh phái sinh từ “Tính”, chỉ sau khi chế độ phụ hệ được thiết lập, Thị mới bắt đầu xuất hiện trên vũ đài lịch sử với diện mạo độc lập. “Tính” dùng để biệt hôn nhân, “Thị” dùng để phân sang hèn. Sau Tần Hán, Tính-Thị bắt đầu hỗn hợp làm một, việc lấy Thị thay Tính xuất hiện phổ biến, Tính-Thị dần ổn định thành thể chế hiện nay. Nói tóm lại, văn hóa Tính-Thị Trung Quốc có nội hàm vô cùng phong phú, là một bộ phận quan trọng của văn hóa dân tộc Trung Hoa. Phát huy đức hạnh tổ tiên, lá rụng về cội, là truyền thống ưu tú của dân tộc Trung Hoa. Tính-Thị là biểu hiện quan trọng của tính xã hội loài người. Tính xã hội của con người khiến mỗi người đều cần một cảm giác quy thuộc tinh thần. Bàn luận về nguồn gốc Tính-Thị Trung Quốc, có thể giúp người Hoa trong và ngoài nước tìm thấy chỗ quy túc lịch sử của mình, có lợi cho việc tăng cường ý thức dân tộc của người Hoa. Cho nên, tìm hiểu, khảo cứu nguồn gốc văn hóa Tính-Thị Trung Quốc, có ý nghĩa văn hóa sâu xa và ý nghĩa xã hội to lớn.

Tài liệu tham khảo:

[1] (Thanh) Nguyễn Nguyên. Thập tam kinh chú sớ [Z]. Hàng Châu: Nhà xuất bản Cổ tịch Chiết Giang, 1998 (ảnh in). 1733,622,732.
[2] (Thanh) Đoàn Ngọc Tài. Thuyết văn giải tự chú [Z]. Thượng Hải: Nhà xuất bản Cổ tịch Thượng Hải, 1982 (ảnh in). 612,628.
[3] (Nam Tống) Trịnh Tiều. Thị tộc lược · Thị tộc tự [A]. Thông chí [Z]. Hàng Châu: Nhà xuất bản Cổ tịch Chiết Giang, 2003 (ảnh in). 439.
[4] (Hán) Tư Mã Thiên. Sử ký (một) [M]. Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 1982. 295,2,15.
[5] (Thanh) Cố Viêm Võ. Hoàng Nhữ Thành tập thích. Nhật tri lục tập thích (quyển 23 · Thị tộc) [M]. Trường Sa: Nhà xuất bản Nhạc Lộc thư xã, 1994. 798.
[6] (Thanh) Trần Lập. Bạch hổ thông sớ chứng (quyển 9 · Tên Tính) [M]. Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 1997. 401,405,406,420.
[7] Phạm Văn Kỳ. Bách gia tính Tính-Thị khởi nguyên [M]. Vũ Hán: Nhà xuất bản Văn nghệ Trường Giang, 1999. 5.
[8] Vương Tuyền Căn. Giải thích văn hóa Tính-Thị Trung Quốc [M]. Bắc Kinh: Nhà xuất bản Đoàn kết, 2000. 63,229.


CHÚ GIẢI :

A. Thuật ngữ và khái niệm :

  1. Tính ( - Xìng):
    • Khái niệm: Ban đầu là dấu hiệu chung của những người cùng một thủy tổ nữ trong xã hội mẫu hệ, dùng để phân biệt huyết thống, chủ yếu nhằm mục đích "biệt hôn nhân" (không cho kết hôn cùng Tính). Chữ Hán "" cấu tạo từ bộ "nữ" () và "sinh" ( - sinh ra), ngầm chỉ nguồn gốc từ người mẹ. Theo bài viết, Tính cổ thường có bộ "nữ" như: Cơ (), Tự (), Khương (), Diêu (),...
    • Vai trò: Xác định quan hệ huyết thống xa, giúp tránh kết hôn cận huyết thống.
  2. Thị ( - Shì):
    • Khái niệm: Là chi nhánh của Tính, xuất hiện sau trong xã hội phụ hệ. Thị dùng để "minh quý tiện" (phân biệt sang hèn), địa vị xã hội. Chỉ quý tộc mới có Thị. Thị thường gắn với tên nước, đất phong, chức quan, nghề nghiệp,... của một nhánh cụ thể trong đại gia tộc.
    • Vai trò: Xác định dòng dõi, chi phái và đẳng cấp xã hội của một người trong thời kỳ phong kiến phân quyền.
  3. Tô-tem (图腾 - Đồ đằng):
    • Khái niệm: Vật tổ, thường là một loài động vật hoặc thực vật, được một bộ lạc hoặc Thị tộc tôn thờ như nguồn gốc hoặc người bảo hộ. Trong bài, Tô-tem có vai trò quan trọng trong "cảm ứng sinh" - người phụ nữ đầu tiên của bộ lạc cảm ứng với Tô-tem mà sinh ra con, từ đó lấy tên Tô-tem đặt làm Tính.
    • Ví dụ: Tính Tự () của nhà Hạ gắn với cây ý dĩ; Tính Tử () của nhà Thương gắn với chim huyền điểu; Tính Cơ () của nhà Chu gắn với dấu chân gấu.
  4. Cảm ứng sinh (感生 ):
    • Khái niệm: Một kiểu thần thoại phổ biến trong các xã hội nguyên thủy, giải thích sự ra đời của các nhân vật anh hùng hoặc tổ tiên vĩ đại là do người mẹ cảm ứng với các hiện tượng siêu nhiên (Tô-tem, thiên tượng, quái vật...) mà mang thai, không cần người cha. Đây là cơ sở cho việc hình thành các Tính cổ.
  5. Hợp nhất Tính-Thị (姓氏合一 ):
    • Khái niệm: Quá trình diễn ra từ cuối thời Chiến Quốc đến đời Tần Hán, khi chế độ tông pháp phân hóa sụp đổ, Thị không còn phân biệt đẳng cấp nữa. Từ đó, Tính và Thị được dùng thay thế cho nhau, trở thành một khái niệm duy nhất chỉ dòng Tính của một người, không còn phân biệt huyết thống xa hay địa vị xã hội.
    • Ý nghĩa: Đánh dấu sự bình dân hóa Tính-Thị, ai cũng có Tính, và Tính trở thành yếu tố nhận diện cá nhân mang tính cố định, cha truyền con nối.
  6. Địa vọng (地望 ):
    • Khái niệm: Chỉ một Tính tộc lớn, có thanh thế và địa vị, thường gắn liền với một quận hoặc vùng đất cụ thể. Sau thời Tần Hán, khi Tính-Thị hợp nhất, địa vọng trở thành một trong những cách để phân biệt sự sang hèn giữa các Tính khác nhau. Ví dụ: Tính Lý ở quận Lũng Tây, Tính Vương ở quận Thái Nguyên,...

B. Điển cố và điển tích :

  1. Dẫm vết chân lớn (履大人迹 ):
    • Nội dung: Khương Nguyên (姜嫄), mẹ của Hậu Tắc (tổ tiên nhà Chu), khi đi chơi thấy vết chân của một người khổng lồ, bà dẫm lên và cảm ứng sinh ra Hậu Tắc. Vết chân này được cho là của gấu (Tô-tem của người Chu) hoặc của một vị thần. Nhờ vậy, con cháu nhà Chu lấy Tính Cơ ().
    • Ý nghĩa: Điển hình cho cách thức "lý tích cảm ứng sinh", giải thích nguồn gốc Tính Cơ.
  2. Nuốt trứng chim đen (吞玄鸟卵 ):
    • Nội dung: Giản Địch (简狄), mẹ của Khiết (tổ tiên nhà Thương), khi ra sông tắm, thấy chim huyền điểu (chim én đen) đẻ trứng, bà nuốt phải và sinh ra Khiết. Con cháu lấy Tính Tử ( - nghĩa là con, cũng là trứng).
    • Ý nghĩa: Điển hình cho cách thức "thôn vật cảm ứng sinh", giải thích nguồn gốc Tính Tử và sự tích nhà Thương ("Thiên mệnh huyền điểu, giáng nhi sinh Thương").
  3. Nuốt ý dĩ (吞薏苡 ):
    • Nội dung: Mẹ Vũ (Đại Vũ trị thủy) là Tu Kỷ (修己) nuốt phải quả ý dĩ (một loại cây thuốc) mà sinh ra Vũ. Con cháu nhà Hạ lấy Tính Tự ().
    • Ý nghĩa: Tương tự, giải thích nguồn gốc Tính Tự và sự tích nhà Hạ.
  4. Chuyện "Đậu" Thị (窦氏 ):
    • Nội dung: Khi nhà Hạ, vua Tương bị giết, vợ ông đang mang thai đã chui qua một cái hang (đậu - , nghĩa là hang, lỗ) để chạy trốn và sinh ra Thiếu Khang. Con cháu lấy "Đậu" làm Thị để kỷ niệm sự kiện này.
    • Ý nghĩa: Đây là ví dụ cho cách "lấy sự việc làm Thị" (以事为氏).
  5. Sự tích "Thống" Thị (痛氏):
    • Nội dung: Vua Chu Mục rất sủng ái Thịnh Cơ, khi nàng chết trẻ, nhà vua quá đau buồn nên đã đổi tên tộc của Thịnh Cơ thành Tính "Thống" ( - đau đớn).
    • Ý nghĩa: Một ví dụ khác của "lấy sự việc làm Thị", thể hiện tính biểu tượng và kỷ niệm.
  6. Khổng Tử Âm-luật tự biết nguồn gốc:
    • Nội dung: Truyền thuyết cho rằng Khổng Tử đã thổi ống luật và nghe âm thanh để biết mình là hậu duệ của nhà Ân (Tính Tử).
    • Ý nghĩa: Liên quan đến thuyết "Âm-luật định Tính".

C. Nhân vật và thời đại lịch sử

  1. Viêm Đế và Hoàng Đế (炎帝 & 黄帝 ):
    • Hai vị thủy tổ truyền thuyết của dân tộc Hoa Hạ. Bài viết khẳng định phần lớn các Tính cổ và cả các dân tộc thiểu số về sau đều tự xưng là con cháu của Viêm Hoàng, từ đó xây dựng tư tưởng đại gia đình dân tộc Trung Hoa. Tính Khương () gắn với Viêm Đế, Tính Cơ () gắn với Hoàng Đế.
  2. Tư Mã Thiên (司马迁):
    • Sử gia vĩ đại đời Tây Hán, tác giả Sử ký. Ông được ghi nhận là người đầu tiên chính thức sử dụng "Tính" và "Thị" lẫn lộn như một (Tính-Thị hợp nhất), thể hiện tư tưởng "thiên hạ đồng tông" (cùng một gốc).
  3. Trịnh Tiều (郑樵):
    • Học giả đời Nam Tống, tác giả bộ Thông chí, trong đó có Thị tộc lược chuyên khảo về Tính-Thị. Bài viết dẫn quan điểm của ông về sự khác biệt giữa Tính và Thị thời cổ.
  4. Thời đại:
    • Mẫu hệ (母系 ): Thời kỳ xã hội nguyên thủy, Tính ra đời.
    • Phụ hệ (父系 ): Thời kỳ sau, Thị xuất hiện.
    • Tam đại (三代 ): Chỉ ba triều đại Hạ, Thương, Chu (khoảng 2070-256 TCN).
    • Xuân Thu (春秋): Niên đại 770-476 TCN.
    • Chiến Quốc (战国): Niên đại 475-221 TCN.
    • Tần, Hán (秦汉 ): Từ năm 221 TCN trở đi, đánh dấu sự hợp nhất Tính-Thị.
    • Bắc Ngụy (北魏): Một triều đại Bắc triều do người Tiên Ti thành lập (386-534), nổi tiếng với cuộc cải cách Hán hóa của Hiếu Văn Đế, trong đó có việc đổi Tính Tiên Ti sang Tính Hán.
    • Bắc Chu (北周 ): Một triều đại Bắc triều khác (557-581), trong bài có nhắc đến việc Vũ Văn Giác đổi Tính Hán sang Tính Tiên Ti.
  5. Các nhân vật khác:
    • Hạng Bá (项伯): Chú của Hạng Vũ, được Lưu Bang ban Tính Lưu.
    • An Lộc Sơn (安禄山): Tướng phản nhà Đường, gây ra loạn An Sử.
    • Lệnh Hồ Đào (令狐陶): Tể tướng nhà Đường.
    • Hiếu Văn Đế (北魏孝文帝): Vua Bắc Ngụy, tiến hành cải cách Hán hóa mạnh mẽ.
    • Thương Ưởng (商鞅): Nhà cải cách nước Tần thời Chiến Quốc, còn có các Thị khác là Vệ Ưởng, Công Tôn Ưởng.

D. Các khái niệm về nguồn gốc đặt Thị () và các hình thức đổi Tính-Thị

  • Lấy nước làm Thị (以国为氏): Lấy tên nước được phong để đặt Thị (Vệ, Tấn, Lỗ, Tề, Tống...).
  • Lấy đất phong làm Thị (以封地为氏): Lấy tên ấp, đất được phong để đặt Thị (Bảo Thúc Nha, Âu Dương...).
  • Lấy tên tự làm Thị (以字为氏): Lấy tên tên tự của tổ tiên (thường là ông) để đặt Thị (Tử Ngư, Tử Gia...).
  • Lấy tên làm Thị (以名为氏): Lấy tên của tổ tiên để đặt Thị (Ngũ Viên, Triển Cầm...).
  • Lấy thứ bậc làm Thị (以次为氏): Lấy thứ tự anh em (Bá, Trọng, Thúc, Quý) để đặt Thị.
  • Lấy thụy hiệu làm Thị (以谥为氏): Lấy tên thụy sau khi chết của tổ tiên để đặt Thị (Trang Vương -> Tính Trang).
  • Lấy quan chức làm Thị (以官爵为氏): Lấy tên chức quan làm Thị (Lý, Tiền, Vương, Công...).
  • Lấy nghề nghiệp làm Thị (以技为氏): Lấy nghề nghiệp làm Thị (Vu, Đồ, Bốc, Tượng...).
  • Lấy sự kiện làm Thị (以事为氏): Lấy một biến cố đặc biệt làm Thị (Đậu, Thống).
  • Vua ban Tính (帝王赐姓): Vua ban Tính để thưởng (ban quốc tính như Tính Lưu, Tính Kim) hoặc phạt (ban Tính xấu như Tính Lạp).
  • Kiêng húy (避讳): Đổi Tính để tránh phạm húy của vua (Khuông -> Chủ -> Khang; Trang -> Nghiêm).
  • Tránh Họa (避祸): Đổi Tính để tránh tai Tínha (Hàn -> Vi; Điền -> Quang).
  • Xu hướng vinh hoa (趋荣): Đổi Tính để kết thân với người quyền quý (Hồ -> Lệnh Hồ).
  • Do âm sai (音讹): Đổi Tính do phát âm khác nhau giữa các vùng miền (Canh -> Giản).

  • Zalo
  • Messenger
  • Back to top