Nguyên Thuyên mộ chí - 元詮墓志

Ngày đăng: 03/04/2026 | 00:04

Nguyên Thuyên mộ chí - An Lạc Vũ Khang Vương Nguyên Thuyên truyện


I. Mở đầu: Về bia mộ Nguyên Thuyên

Nguyên Thuyên mộ chí(元詮墓志), toàn xưng Ngụy sứ trì tiết Phiêu kỵ tướng quân Ký Châu thứ sử Thượng thư tả bộc xạ An Lạc vương mộ chí minh - 魏使持節驃騎將軍冀州刺史尚書左僕射安樂王墓志銘 , là một trong những bia đá thuộc hàng tinh phẩm trong kho tàng thư pháp Ngụy bi. Bia được khắc vào tháng 8 năm Vĩnh Bình thứ năm (512), tức niên hiệu Diên Xương thứ nhất, cao chừng 79,3 thước, rộng 76,5 thước, khắc 22 hàng, mỗi hàng đủ 23 chữ, tổng cộng hơn 400 chữ, chữ khải thư (chính thư) phương bút, kết cấu khoan khoát, bút thế khai trương, bút lực hùng kiện. Bia được khai quật vào năm 1917 tại thôn Bá Lạc Ao, phía bắc thành Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, qua tay nhiều nhà sưu tầm như Tăng Bỉnh Chương, Trần Ngư Xuân, cuối cùng nhập tàng tại Bảo tàng Thượng Hải.

Nhà khảo cổ học lớn La Chấn Ngọc (羅振玉) từng tán thưởng trong Tuyết Đường kim thạch văn tự bạt vĩ rằng:

“Bia này văn tự đều tốt, trong các bia của các vương nhà Ngụy xuất thổ gần đây, bia này đứng đầu.”

Quả thực, Nguyên Thuyên mộ chíkhông chỉ là một tác phẩm điêu khắc tinh xảo, mà còn là một chứng nhân lịch sử, ghi lại cuộc đời và sự nghiệp của một vị vương gia dưới triều Bắc Ngụy, đồng thời phản ánh sự biến chuyển của nghệ thuật thư pháp từ “nét nghiêng kết chặt” sang “nét ngang khoan thai, kết cấu rộng rãi”.


II. Thân thế xuất thân và phiệt duyệt hiển hách

Nguyên Thuyên (477–512), tự Hưu Hiền (休賢), người huyện Lạc Dương (nay thuộc Lạc Dương, Hà Nam). Ông là cháu nội của Cao Tông Văn Thành hoàng đế Thác Bạt Tuấn (拓跋濬), con trai của Đại tư mã công An Lạc vương Thác Bạt Trường Lạc. Theo Ngụy thưchép, phụ thân Trường Lạc từng tham gia mưu phản, bị ban chết tại nhà. Năm Thái Hòa thứ ba (479), Nguyên Thuyên khi ấy mới ba tuổi, liền được tập tước An Lạc vương.

Điểm đáng chú ý là chữ tự của ông: mộ chí khắc là “Hưu Hiền”, trong khi Ngụy thưlại chép là “Tầm Hiền” (搜賢). Các nhà khảo cứu căn cứ vào mộ chí xuất thổ mà xác định “Hưu Hiền” mới là chính xác. Đây là một minh chứng tiêu biểu cho giá trị bổ khuyết sử liệu của mộ chí.


III. Sự nghiệp quan lộ và đức độ

1. Nhập sĩ thời Hiếu Văn

Năm Thái Hòa thứ ba (479), tập tước An Lạc vương, được phong Chinh Tây đại tướng quân, kiêm Thái tử trung thứ tử. Năm Thái Hòa thứ mười tám (494), Hiếu Văn Đế thiên đô về Lạc Dương, cử Nguyên Thuyên giữ chức Quang tước, lãnh Viên ngoại tán kỵ thường thị, ban đồng hổ phù, phụng mệnh đi sứ về thành Bình Thành để an ủi các công khanh ở Lưu đài và nghênh đón thất miếu (bảy ngôi miếu thờ tổ tiên nhà vua) vào Lạc Dương. Cũng trong năm ấy, Hiếu Văn Đế xét duyệt quan viên đông cung, đánh giá Nguyên Thuyên chỉ đạt hạ trung, bị giáng làm Viên ngoại tán kỵ thường thị.

2. Xuất trấn Lương Châu, dưỡng dân tế khổn

Đầu thời Tuyên Vũ Đế, Nguyên Thuyên được bổ nhiệm làm Trì tiết, Đốc Lương Châu chư quân sự, Quán quân tướng quân, Lương Châu thứ sử, sau tiến hiệu Bình Tây tướng quân. Sử sách chép ông “tại châu tham hối, chính dĩ tệ thành” (ở châu tham lam, việc chính trị lấy tiền của mà quyết định), là một vết nhơ trong sự nghiệp của ông.

3. Tham chiến Chung Ly, lao tác chấn lữ

Niên hiệu Chính Thủy thứ ba (506), quân Nam triều Lương xâm phạm biên giới, Nguyên Thuyên được phong làm sứ trì tiết, Đốc Nam thảo chư quân sự, Bình Nam tướng quân, suất quân vây đánh thành Chung Ly (nay thuộc An Huy). Tuy không trực tiếp xông pha trận mạc, nhưng nhờ công lao “chấn lữ” (chỉnh đốn quân đội khi rút về), ông được phong làm Trì tiết, Đốc Định Châu chư quân sự, Bắc Bình tướng quân, Định Châu thứ sử.

4. Thủ cáo Nguyên Du, an xã tắc chi công

Năm Vĩnh Bình thứ nhất (508), Kinh Triệu vương Nguyên Du (元愉) làm phản, giả truyền tin rằng Tuyên Vũ Đế đã bị hại, khiến các châu trấn phương bắc hoang mang. Nguyên Thuyên đã kịp thời tố cáo sự việc, làm rõ tình hình, giúp ổn định lòng người. Sau đó, ông phối hợp cùng Lý Bình, Cao Thực vây đánh Nguyên Du, dẹp yên cuộc phản loạn. Nhờ công lao to lớn, ông được gia phong Thị trung, và giữ chức Thượng thư tả bộc xạ, gia phong ba trăm hộp ấp.


IV. Hành chính cương trực và ái dân chi đức {#chuong4}

Điểm son trong sự nghiệp của Nguyên Thuyên chính là lòng yêu thương dân chúng. Bia khắc rằng:

“Tuế chúc tai cận, vương nãi khai thương lẫn, xá thức túc sổ bách vạn hộc, dĩ tức cơ dân.” (Năm ấy gặp mất mùa đói kém, vương bèn mở kho lẫm, bỏ ra lương bổng mấy trăm vạn hộc thóc để cứu đói dân.)

Hành động này cho thấy dù có thể trong việc cai trị còn nhiều điều tiếng, song ông vẫn giữ được tấm lòng trắc ẩn với kẻ đói khát, thực sự xứng đáng với chức trách một phương.


V. Phục mệnh thần kinh và truy tặng chi lễ

Ngày Mậu Ngọ, 28 tháng 3 năm Vĩnh Bình thứ năm (tức ngày 29 tháng 4 năm 512), Nguyên Thuyên qua đời tại phủ, hưởng dương 36 tuổi. Triều đình ban tặng Đông viên bí khí (quan tài quý), một bộ triều phục, bảy trăm tấm lụa vải, và truy tặng chức sứ trì tiết, Phiêu kỵ đại tướng quân, Ký Châu thứ sử, thụy hiệu là Vũ Khang.

Ngày Giáp Thân, 26 tháng 8 năm ấy, ông được an táng tại tây núi Mang thuộc huyện Hà Âm (nay là khu vực Bắc Mang, Lạc Dương).


VI. Gia quyến thân tộc

  • Phụ thân: An Lạc Lệ vương Thác Bạt Trường Lạc.
  • Hậu duệ: Ông có ít nhất hai người con trai là Nguyên Giám (元鑒) tập tước An Lạc vương, làm quan đến Thượng thư tả bộc xạ, và Nguyên Bân Chi (元斌之), làm quan nhà Tây Ngụy, được phong tước Thái úy.

VII. Mộ chí khảo lược

Nguyên Thuyên mộ chíđược phát hiện vào năm 1917, là một khối đá hình vuông, cao 79,3 cm, rộng 76,5 cm, dày 12 cm, khắc 22 hàng chữ, mỗi hàng 23 chữ, tổng cộng 493 chữ, trong đó phần chí văn (phần đầu kể thân thế và sự nghiệp) gồm 341 chữ. Mộ chí này từng thuộc sở hữu của Tăng Bỉnh Chương (Thường Thục) và Trần Ngư Xuân (Phiên Ngung), trước khi được Vương Tráng Hoằng mua lại và hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Thượng Hải. Có một số tài liệu ghi nhận nó cũng được lưu giữ tại Bảo tàng Khai Phong.

Mộ chí không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về cuộc đời Nguyên Thuyên mà còn bổ sung những chi tiết quan trọng bị thiếu trong Ngụy thư, chẳng hạn như chức Đại tư mã của thân phụ ông mà sử sách không ghi lại.

  1. Toàn văn chữ Hán :

魏使持節驃騎將軍冀州刺史尚書左僕射安樂王墓志銘

王諱詮,字休賢,河高宗文成皇帝之孫,大司馬公安樂王之子。少襲王爵,加征西大將軍,尋拜光爵,又以本官領太子中庶子。及皇居徙御,詔王以光爵,領員外散騎常侍,賚銅虎符。馳傳往代,申勞留台公卿,奉迎七廟。頃之,敕兼侍中,尋除持節、督涼州諸軍事、冠軍將軍、涼州刺史,尋又進號平西將軍。正始之中,南寇侵境,詔王使持節、都督南討諸軍事、平南將軍,攻圍鍾離。以振旅之功,除使持節、都督定州諸軍事、平北將軍、定州刺史。歲屬災饉,王乃開倉廩,舍秩粟數百萬斛,以餼饑民。元愉滔天,王忠誠首告,表請親征。敕王都督定瀛二州諸軍事,余如故。氛霧克清,除侍中。又以安社稷之勛,除尚書左僕射,增封三百戶。春秋卅有六,永平五年太歲壬辰三月廿八日戊午遘疾薨於第。詔賜東園秘器,朝服一具,絹布七百匹,禮也。追贈使持節、驃騎大將軍、冀州刺史,僕射、王如故,謚曰武康。粵八月廿六日甲申窆於河陰縣西芒山。精緯昺靈,蘭殖帝庭,是惟盛德,有馥其馨。玄猷岳峻,雅量川渟,堂堂武略,煥煥文經。纓紱兩襟,珩組二蕃,金鏘玉響,秋鏡春暄。重加惠弁,再撫寅軒,彝倫式序,海水澄源。允膺納籙,且既賓門。報施徒聞,仁壽誰覿,一夢兩楹,長淪七尺。痛纏樞扆,哀震衢陌,遄哉夕菟,迅矣晨烏。龜筮襲吉,毀躐戒途,哀笳北轉,楚挽西徂。羨扃既掩,蘭釭已滅,泉夜冥冥,松颸屑屑。天地長久,陵谷或頹,惟功與德,不朽傳斯。

  1. Phiên âm Hán Việt :

Ngụy Sứ trì tiết Phiêu kị Tướng quân Kí châu thứ sử Thượng thư Tả bộc xạ An lạc vương mộ chí minh .

Vương húy Thuyên tự Hưu Hiền Hà cao Tông văn thành hoàng đế chi tôn Đại

tư mã công An lạc vương chi tử Thiểu tập vương tướcgia Chinh tây đại tướng quân tầm bái quang tước hựu dĩ bổn quan lĩnh Thái tử trung thứ tử Cập hoàng cư tỉ ngự chiếu vương dĩ quang tước lĩnh Viên ngoại tán kị thường thị lãi đồng hổ phù Trì truyền vãng đại thân lao lưu thai công khanhphụng nghênh thất miếu Khoảnh chi sắc kiêm thị trung tầm trừ trì tiết đốc lương châu chư quân sự quan quân tương quân lương châu thứ sử tầm hựu tiến hào bình tây tương quân chánh thủy chi trung nam khấu xâm cảnh chiếu vương sử trì tiếtđô đốc nam thảo chư quân sự bình nam tương quân công vi chung li dĩ chấn lữ chi công trừ sử trì tiết đô đốc định châu chư quân sự bình bắc tương quân định châu thứ sử tuế chúc tai cận vương nãi khai thương lẫm xá trật túc sổ bách vạn hộc dĩ hí cơ dân nguyên du thao thiên vương trung thành thủ cáo biểu thỉnh thân chinh sắc vương đô đốc định doanh nhị châu chư quân sự dư như cố phân vụ khắc thanh trừ thị trung hựu dĩ an xã tắc chi huântrừ thượng thư tả bộc xạ tăng phong tam bách hộ xuân thu tạp hữu lục vĩnh bình ngũ niên thái tuế nhâm thần tam nguyệt nhập bát nhật mậu ngọ cấu tật hoăng ư đệChiếu tứ đông viên bí khí triêu phục nhất cụ quyên bố thất bách thất lễ dãTruy tặng sử trì tiết phiếu kị đại tương quân kí châu thứ sử bộc xạvương như cố thụy viết Vũ khang việt bát nguyệt nhập lục nhật giáp thân biếm ư hà âm huyện tây mang san

Tinh vĩ bỉnh linh lan thực đế đình thị duy thịnh đứchữu phức kì hinh Huyền du nhạc tuấn nhã lượng xuyên đình đường đường vũ lượchoán hoán văn kinh anh phất lưỡng khâm hành tổ nhị phiền kim thương ngọc hưởngthu kính xuân huyên trọng gia huệ biện tái phủ dần hiên di luân thức tựhải thủy trừng nguyên duẫn ưng nạp lục thả kí tân môn báo thi đồ vănnhân thọ thùy địch nhất mộng lưỡng doanh trường luân thất xích thống triền xu ỷai chấn cù mạch thuyên tai tịch thố tấn hĩ thần ô quy thệ tập cáthủy liệp giới đồ ai già bắc chuyển sở vãn tây tồ tiện quynh kí yểmlan công dĩ diệt tuyền dạ minh minh tùng ti tiết tiết thiên địa trường cửulăng cốc hoặc đồi duy công dữ đức bất hủ truyền tư

  1. Tạm dịch :

Ngụy sứ trì tiết Phiêu kỵ tướng quân Ký Châu thứ sử Thượng thư tả bộc xạ An Lạc vương mộ chí minh

Vương húy là Thuyên, tự Hưu Hiền, là cháu nội của Cao Tông Văn Thành hoàng đế, là con trai của Đại tư mã công An Lạc vương (Thác Bạt Trường Lạc). Thuở nhỏ tập tước vương, thêm chức Chinh Tây đại tướng quân, chẳng bao lâu nhận chức Quang tước, lại lấy bản quan kiêm chức Thái tử trung thứ tử. Và khi hoàng cung dời đổi, chiếu vương lấy chức Quang tước, kiêm chức Viên ngoại tán kỵ thường thị, ban cho đồng hổ phù. Cưỡi xe trạm nhanh chóng đến thay, an ủi công khanh ở Lưu đài, nghênh đón bảy ngôi miếu thờ. Một thời gian sau, sắc phong kiêm chức Thị trung, chẳng bao lâu trừ chức Trì tiết, Đốc Lương Châu chư quân sự, Quán quân tướng quân, Lương Châu thứ sử, chẳng bao lâu lại tiến hiệu Bình Tây tướng quân. Giữa niên hiệu Chính Thủy, giặc phương Nam xâm phạm bờ cõi, chiếu vương làm sứ trì tiết, Đốc Nam thảo chư quân sự, Bình Nam tướng quân, tiến đánh vây thành Chung Ly. Nhờ công chỉnh đốn quân đội khi trở về, trừ chức sứ trì tiết, Đốc Định Châu chư quân sự, Bắc Bình tướng quân, Định Châu thứ sử. Năm ấy gặp mất mùa đói kém, vương bèn mở kho lẫm, bỏ ra lương bổng mấy trăm vạn hộc thóc để cứu đói dân. Nguyên Du tội lỗi lớn như trời, vương lấy lòng trung thành tố cáo trước, dâng biểu xin đích thân đi đánh. Sắc phong vương làm Đốc Định Doanh nhị châu chư quân sự, các chức khác như cũ. Khí mù mịt được dẹp sạch, trừ chức Thị trung. Lại nhờ công an xã tắc, trừ chức Thượng thư tả bộc xạ, gia phong ba trăm hộ ấp. Hưởng dương ba mươi sáu tuổi, ngày Mậu Ngọ, 28 tháng 3, năm Vĩnh Bình thứ năm, năm Nhâm Thìn, mắc bệnh qua đời tại phủ. Chiếu ban cho Đông viên bí khí, một bộ triều phục, bảy trăm tấm lụa vải, đó là theo lễ vậy. Truy tặng chức sứ trì tiết, Phiêu kỵ đại tướng quân, Ký Châu thứ sử, chức Bộc xạ, tước Vương như cũ, thụy là Vũ Khang. Vào ngày Giáp Thân, 26 tháng 8, được chôn cất tại tây núi Mang thuộc huyện Hà Âm.

Kinh trời vĩ đất, sáng linh,
Cây lan trồng chốn đế đình, đẹp thay.
Ấy là đức cả vun bồi,
Hương thơm tỏa ngát lâu dài không phai.
Mưu sâu như núi cao vời,
Khí rộng như nước cả trời trập trùng.
Mưu lược võ lẫy lừng,
Văn chương chói lọi, sáng trưng khắp trời.
Tơ mũ kết chặt hai nơi,
Ngọc đeo hai cõi, ngọc ngời sắc phong.
Vàng reo, ngọc khảy véo von,
Gương thu, ấm áp ánh xuân ngập tràn.
Mũ huệ thêm trải rộng ban,
Lại sang xe đỏ, đạo khuông phò vua.
Trật tự đã định từ xưa,
Biển nguồn trong lặng, nắng mưa thuận hòa.
Vâng lời nhận sách khắc da,
Làm khách, rồi đến cửa nhà cao sang.
Đã nghe báo đáp thường hằng,
Nhân nào sống thọ? Thấy chăng ai còn?
Chốc mơ hai cột giữa điện,
Chìm tuôn bảy thước thân liền đất đen.
Đau thương vây phủ nhà vua,
Khóc than rung động phố phường xa gần.
Kìa bóng thỏ tháng tối nhanh,
Kìa con quạ sớm liệng quanh vội vàng.
Rùa, cỏ bói bảo lành,
Xa giá đưa tiễn, lối nhanh dặm trường.
Kèn thương quặt hướng bắc xa,
Tiếng ca chiêu hồn, phía tà dương trôi.
Cửa mộ đã khép kín rồi,
Đèn ngọc tắt lụi, mưa dội khắp nơi.
Suối vàng tăm tối xa vời,
Thông reo lác đác, rụng rơi lá ngà.
Trời đất muôn thuở vẫn dài,
Núi non, khe suối có ngày lở phai.
Riêng công cùng đức chẳng phai,
Ngàn năm sau mãi còn dài lưu hương.


VIII. Giá trị thư pháp và sử học của Nguyên Thuyên mộ chí {#chuong8}

1. Giá trị thư pháp

Nguyên Thuyên mộ chílà một tác phẩm tiêu biểu của thời kỳ quá độ trong lịch sử thư pháp Bắc Ngụy:

  • Thời kỳ thịnh đạt (Bắc Mang thể): Đặc trưng bởi lối viết tà hoạch khẩn kết (nét nghiêng kết chặt) như Nguyên Trinh mộ chí, nét chữ cô đọng, góc cạnh sắc sảo, đường nét dày dặn, mang đậm chất kim thạch cứng cỏi.
  • Thời kỳ trung vãn kỳ: Chịu ảnh hưởng của phong cách thư pháp phương Nam, dần chuyển sang lối bình hoạch khoan kết (nét ngang thoải mái, kết cấu rộng rãi), kết cấu chữ trở nên thanh thoát, khoáng đạt hơn.
  • Vai trò chuyển tiếp: Nguyên Thuyên mộ chínằm chính xác ở bước chuyển giao này. Chữ viết khoan bác, bút thế khai trương, tuy vẫn chú trọng nghiêng lệch lấy thế, nhưng tổng thể đã hướng đến sự bình ổn, thanh nhã. Nét chữ cương nhu tế tế, phương viên tịnh thi, vừa có biến hóa, lại giữ được nét trác phác thú vị. Có học giả nhận xét phong cách sướng nhuận nhã tú của bia này đã mở đường cho thư pháp Khải thư đời Tùy Đường.

Nguyên Thuyên mộ chíchính là tác phẩm tiêu biểu của thời kỳ quá độ từ "nét nghiêng kết chặt" sang "nét ngang khoan thai, kết cấu rộng rãi". Hình chữ của nó khác với Nguyên Trinh mộ chíở chỗ trung cung co thắt, mà càng thư thái khoan khoát, tuy chú trọng chữ nghiêng lấy thế, nhưng tổng thể nghiêng về bình ổn. Bút thế khai trương, khi đặt bút lộ đầu nhọn, vận bút chú trọng biến hóa, nét chữ có độ đậm nhạt, cả vuông cả tròn, tuy thiếu đi cảm giác dày nặng của kim thạch, nhưng lại có thêm tính viết của thư pháp. Lối Khải thư của nó vừa có biến hóa, lại thấy chất phác thú vị, thực không hổ là tinh phẩm của Ngụy bi. Chính vì vậy, học giả La Chấn Ngọc mới có lời tán thưởng cao quý như đã dẫn ở phần đầu.

2. Giá trị sử học

Nguyên Thuyên mộ chíghi chép con đường làm quan của chủ bia là Nguyên Thuyên. Nguyên Thuyên, sử sách có truyện, Ngụy thưquyển 20 Văn Thành ngũ vương liệt truyệncó chép.

Bia rằng: "Vương húy Thuyên, tự Hưu Hiền, là cháu nội của Cao Tông Văn Thành hoàng đế, con của Đại tư mã công An Lạc vương." Ngụy thưtruyện An Lạc vương thì chép: "An Lạc vương Trường Lạc, năm Hoàng Hưng thứ tư (470) phong Kiến Xương vương, sau đổi phong An Lạc vương... Năm Thừa Minh thứ nhất (476) nhận chức Thái úy, ra làm Thứ sử Định Châu... Sau cùng với Nội hành trưởng Ất Tứ Hổ mưu làm phản, việc phát giác, bị ban chết tại nhà, táng theo lễ vương, thụy là Lệ. Con là Thuyên, tự Tầm Hiền, tập tước. Đầu đời Thế Tông, làm Thứ sử Lương Châu."

Bia nói Nguyên Thuyên tự là "Hưu Hiền", sử chép là "Tầm Hiền", lấy bia làm chính xác. Bia nói Nguyên Thuyên là "con của Đại tư mã công An Lạc vương", sử không chép Trường Lạc từng làm quan Đại tư mã, bia có thể bổ sung chỗ thiếu của sử.

Bia nói Nguyên Thuyên "Thuở nhỏ tập tước vương, thêm chức Chinh Tây đại tướng quân, chẳng bao lâu nhận chức Quang tước, lại lấy bản quan lĩnh Thái tử trung thứ tử, và khi Hoàng cư dời đô, chiếu vương lấy chức Quang tước lĩnh Viên ngoại tán kỵ thường thị... Một thời gian sau, sắc kiêm Thị trung, chẳng bao lâu trừ chức Trì tiết đốc Lương Châu chư quân sự Quán quân tướng quân Lương Châu thứ sử, chẳng bao lâu lại tiến hiệu Bình Tây tướng quân." Sử truyện chỉ nói "làm Thứ sử Lương Châu", không bằng văn bia chi tiết.

Bia nói "Giữa niên hiệu Chính Thủy, giặc Nam xâm cõi, chiếu vương làm sứ trì tiết Đốc Nam thảo chư quân sự Bình Nam tướng quân, tiến đánh vây Chung Ly, nhờ công chỉnh đốn quân đội khi trở về, trừ chức Trì tiết Đốc Định Châu chư quân sự Bắc Bình tướng quân Định Châu thứ sử."

Theo Ngụy thưquyển 8 Thế Tông kỷchép, năm Chính Thủy thứ ba (506) nhà Lương phía Nam "Tiêu Diễn Ký Châu thứ sử Hoàn Hòa xâm cõi vào Nam Thanh Châu", "lấy Trung Sơn vương Anh làm Chinh Nam tướng quân, Đốc Dương Từ nhị đạo chư quân sự, chỉ bảo các tướng nơi biên. Tiêu Diễn Giang Châu thứ sử Vương Mậu Tiên xâm cõi Kinh Châu... chiếu Bình Nam tướng quân Dương Đại Nhãn đánh dẹp... chiếu Bình Nam tướng quân, An Lạc vương Thuyên đốc các quân phát sau đến cứu Hoài Nam... Trung Sơn vương Anh phá lớn quân Tiêu Diễn ở Hoài Nam... Anh bèn đánh vây Chung Ly." Việc bia nói về Nguyên Thuyên ắt chỉ việc này, thực ra ông không đến tiền tuyến, nhưng nhờ công "chỉnh đốn quân đội khi trở về" mà được phong "Định Châu thứ sử".

Bia lại nói "Nguyên Du càn trời, vương lấy lòng trung thành tố cáo trước, dâng biểu xin đích thân chinh phạt, chiếu vương đốc Định, Doanh nhị châu chư quân sự, các chức khác như cũ. Khí mù mịt được dẹp sạch, trừ chức Thị trung, lại nhờ công an xã tắc, trừ chức Thượng thư tả bộc xạ."

Theo Ngụy thưchép, tháng 8 năm Vĩnh Bình thứ nhất (508) "Ký Châu thứ sử, Kinh Triệu vương Du cậy châu làm phản. Ngày Ất Sửu, giả chức Thượng thư trấn Bắc tướng quân, hành Ký Châu sự để đánh dẹp... Lý Bình phá lớn Nguyên Du ở Thảo Kiều... Định Châu thứ sử, An Lạc vương Thuyên phá lớn Nguyên Du ở phía bắc Tín Đô." Ngụy thưtruyện Nguyên Thuyên chép: "Khi Kinh Triệu vương Du làm phản, giả truyền tin biến trong nước... Thuyên đem việc ấy tố cáo đầy đủ, các châu trấn yên ổn. Du chạy đến Tín Đô, Thuyên cùng Lý Bình, Cao Thực các mặt đánh đốt, Du phá cửa chạy trốn. Chẳng bao lâu trừ chức Thị trung, kiêm thêm nhờ công tố cáo đầu tiên, trừ chức Thượng thư tả bộc xạ." Lời bia nói ắt chỉ việc này.

Ngày 28 tháng 3 năm Vĩnh Bình thứ năm, Nguyên Thuyên "mắc bệnh qua đời tại phủ". Theo đó, tháng 4 năm ấy, đổi niên hiệu là Diên Xương, tháng 3 vẫn còn là năm Vĩnh Bình thứ năm, lời bia không sai. Ngụy thưThế Tông kỷ không liệt năm Vĩnh Bình thứ năm, liền chép "tháng 3 năm Diên Xương thứ nhất, An Lạc vương Thuyên qua đời." Bia nói "truy tặng sứ trì tiết Phiêu kỵ tướng quân Ký Châu thứ sử, Bộc xạ, vương như cũ, thụy Vũ Khang." Bản truyện thì nói "thụy Vũ Khang", mà không nói rõ chức được truy tặng, cũng là lược bớt.

Về mặt sử liệu, Nguyên Thuyên mộ chícó ba giá trị nổi bật:

  • Bổ khuyết: Ghi lại chi tiết thân phụ Nguyên Thuyên từng giữ chức “Đại tư mã”, điều mà Ngụy thưbỏ sót.
  • Cải chính: Xác định chính xác tên tự của ông là “Hưu Hiền” (休賢), sửa lại tên “Tầm Hiền” (搜賢) mà sử sách chép.
  • Phong phú hóa: Khắc họa sinh động quá trình quan chức của Nguyên Thuyên, từ việc thiên đô Lạc Dương, đến trấn thủ Lương Châu, tham chiến Chung Ly, và dẹp loạn Nguyên Du, cung cấp một bức tranh toàn cảnh về chính sách tông thất thời Hiếu Văn, Tuyên Vũ.

IX. Lời kết

Tóm lại, Nguyên Thuyên mộ chí là một di vật vô cùng quý giá. Về mặt sử học, nó giúp hậu thế hiểu rõ hơn về một nhân vật lịch sử vừa có tài năng, vừa có những sai lầm, nhưng cũng có những đóng góp to lớn cho triều đình. Về mặt thư pháp, nó là một kiệt tác nghệ thuật, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của thư pháp Trung Hoa, nối tiếp giữa sự cương kính của Ngụy bi và sự tinh tế của Khải thư Đường. Sự kết hợp hài hòa giữa “văn” (chữ viết) và “sử” (sử liệu) đã khiến cho khối đá vô tri này trở thành một bảo vật trường tồn cùng năm tháng.

 

  • Zalo
  • Messenger
  • Back to top